Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện giả tưởng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện giả tưởng. Hiển thị tất cả bài đăng

11 thg 11, 2008

Vẫn là con chúng tôi (Kỳ cuối)

Polly và Peter Hal nằm trên hai chiếc bàn được đẩy lại sát nhau, họ nắm tay nhau. Người ta phủ lên họ một chiếc lồng che hai lớp màu đen. Và họ rơi vào bóng tối. Từ đâu đó tiếng đồng hồ vọng tới - từ phía sâu trong toà nhà tiếng nói kim loại ngân vang: "tic-ki, tắc-ki, bảy giờ đúng rồi, xin báo cho mọi người ..." - và rồi tiếng nói đó tắt dần ...
Tiếng ù trong phòng ngày càng mạnh lên. Cỗ máy thở bằng cái sức mạnh tiềm tàng vẫn bị nén lại như lò xo, ngày một tăng lên.
- Có nguy hiểm không? - Peter hỏi to.
- Không hề!
Sức mạnh bung ra bằng tiếng gào thét. Có cảm giác như mọi nguyên tử trong phòng đều bị tách thành hai phần xa lạ, thù nghịch lẫn nhau. Và chúng chiến đấu với nhau - rồi ai sẽ giành phần thắng đây. Peter há to miệng - giá như la lên được ... Toàn bộ cơ thể của anh bị những cơn phóng điện kinh khủng làm rung lên, cắt xén sửa sang lại theo những đường ngang dọc nào đó không rõ. Anh cảm thấy rõ ràng có một mãnh lực nào đó đang xé nát, lôi kéo, cuốn hút toàn thân anh, nó hống hách đòi hỏi một điều gì đó. Là một mãnh lực tham lam, luôn bám riết, kiên tâm, nó đang làm căn phòng nới rộng ra. Cái lồng che màu đen trên người anh bị kéo dãn ra, mọi bề mặt và đường nét của nó méo mó đi một cách dữ dội không sao hiểu được. Mồ hôi tuôn ròng ròng trên mặt - Không, không phải mồ hôi mà là nước ép do những chiếc gọng kìm của những phép đo thù nghịch đang ép từ cơ thể anh chảy ra. Có cảm giác như có cái gì đó đang nạy chân tay anh ra, vứt tung toé, châm chích vào người anh rồi lại kẹp chặt lại. Và cả người anh đang tan ra, đang chảy ra như sáp.
Một tiếng "tách" khẽ.
Tư duy của Peter làm việc cật lực nhưng rất bình tĩnh. "Sau này sẽ ra sao khi mà mình với Polly và bé Pai về nhà, rồi bạn bè sẽ đến chơi và uống rượu? Mọi việc đó sẽ thế nào nhỉ?".
Và anh bỗng hình dung được việc đó sẽ xảy ra thế nào, rồi có lúc anh đã cảm thấy một sự xúc động thầm kín và một niềm tin mù quáng, cảm thấy cả hy vọng vào thời gian nữa. Họ sẽ vẫn sống trong ngôi nhà trắng của họ như trước, vẫn trên ngọn đồi xanh yên tĩnh ấy, chỉ có điều quanh nhà sẽ mọc lên một hàng rào cao để những kẻ tò mỏ khỏi quấy rầy. Và tiến sĩ Wallcot sẽ đến thăm họ thường xuyên - ông ấy sẽ để "con bọ" của mình trong sân, rồi bước lên bậc tam cấp; đứng ở cửa đón ông ta sẽ là một khối lập phương Trắng to lớn với chiếc cốc trong cánh tay trông giống như con rắn.
Còn trên chiếc ghế bành đặt giữa phòng, một khối trụ Trắng sang trọng sẽ ngồi đọc sách và hút thuốc bằng tẩu. Ngay bên cạnh, khối chóp Xanh- là bé Pai- sẽ chạy qua chạy lại. Rồi cuộc trò chuyện sẽ bắt đầu, rồi nhiều bạn bè nữa sẽ đến; khối trụ Trắng và khối vuông Trắng sẽ cười đùa và mời khách những chiếc bánh kẹp tí xíu với rượu vang, và cứ như thế, buổi tối sẽ trôi qua tuyệt vời, vui vẻ và thoả mái.
Mọi việc sẽ xảy ra như thế đấy!
Tách!
Tiếng máy ú ngừng hẳn.
Người ta bỏ lồng chụp ra khỏi vợ chồng Hal.
Tất cả đã xong xuôi.
Họ đã ở trong một hệ không gian khác.
Peter nghe thấy tiếng Polly kêu to. Sáng quá. Peter tụt xuống khỏi bàn và vô cùng ngạc nhiên. Polly đang chạy quanh trong phòng. Vợ anh cúi xuống và nâng cái gì đó lên ...
Nó đấy, con trai của Peter Hal đấy. Một đứa trẻ sinh động, hai má hồng hào, mắt xanh, đang nằm gọn trong hai cánh tay ôm ấp của người mẹ; Polly ngỡ ngàng nhìn quanh và khóc nghẹn ngào.
Cứ y như chưa từng có khối hình chóp vậy. Polly khóc vì hạnh phúc.
Toàn thân run lên, nhưng vẫn cố mỉm cười, Peter tiến về phía họ và cuối cùng ôm choàng lấy cả Polly, cả đứa con cùng một lúc và cùng khóc với hai mẹ con.
- Thế đấy - Đứng từ xa, tiến sĩ Wallcot thốt lên. Ông đứng lặng hồi lâu không hề nhúc nhích. Ông cứ đứng vậy mà nhìn chằm chằm vào góc phòng đầu kia, nhìn vào khối trụ Trắng và khối vuông Trắng cùng khối chóp Xanh đang ôm lấy nhau. Cửa mở, người trợ lý bước vào.
- Sùy ... suỵt ! - Wallcot đặt ngón tay lên môi - Họ cần được ở một mình. Ta đi đi.
Ông nắm lấy khuỷu tay người trợ lý và nhón chân bước ra cửa. Cửa đóng lại sau lưng họ, thế mà khối vuông Trắng và khối trụ Trắng thậm chí không hề ngoái đầu lại.
Trần Thị Thu Hiên (Trần Thu)
dịch từ tiếng Nga

8 thg 6, 2008

Con người...(kỳ cuối)

Con người theo định nghĩa của Platon
(Truyện giả tưởng- kỳ cuối)
Holorel đã làm cho người máy Mars tin rằng anh là người Trái Đất, sau đó lại làm cho hắn tin anh là người của hành tinh Regun. Nhưng cả hai cách đều không giúp gì anh được. Anh còn có thể làm gì nữa?
Theo quan điểm của Mars thì tất cả những sinh vật thông minh và biết khẩu lệnh là người của Trái Đất; còn những sinh vật có lý trí nhưng không biết khẩu lệnh phải là người của hành tinh khác.
Như vậy có nghĩa là…
Một ý nghĩ chợt thoáng qua. Holorel tưởng như đã tìm ra chìa khóa nhưng anh rất khó tập trung tư tưởng.
…Suy cho cùng Mars vẫn là thằng đần. Những tiêu chuẩn của hắn thật là cổ xưa, y như trong chuyện tiếu lâm về nhà triết học nổi tiếng Platon. Platon định nghĩa con người là sinh vật có hai chân, không có lông vũ. Diogen bèn vặt lông một con gà trống và tuyên bố rằng con gà trống này hoàn toàn phù hợp với định nghĩa trên. Sau sự việc đó, Platon có đính chính lại, nói thêm rằng con người là sinh vật có hai chân, không có lông vũ và các móng chân thì phẳng…
Nhưng tất cả những điều đó liên quan gì đến người máy Mars?
Holorel bực tức lắc đầu, gắng tập trung suy nghĩ. Nhưng trước mắt anh cứ hiện lên hình mẫu con người của Platon: một con gà trống nặng 6 put (đơn vị đo trọng lượng của Anh), không có chiếc lông nào và các móng chân rất phẳng.
Mars rất nhạy cảm. Nhất định hắn phải có những điểm yếu. Khác với nhà triết học Platon, hắn không cải chính được những định nghĩa của mình. Hắn không có khả
năng rời bỏ những định nghĩa đó cũng như tất cả những điều khác được suy ra từ chúng một cách logic.
- Khỉ thật- Holorel tự nói thành tiếng- Dù sao thì cũng tìm ra cách rồi.
Anh gắng nghĩ thêm nhưng nhận thấy không đủ sức nữa. Tốt nhất là cứ thử thực hiện, đến đâu hay đến đó vậy.
- Mars, hãy trông đây! Có một con gà trống đã bị vặt hết lông đang đi tới!
***
Trưởng tàu Bitty và trung úy James trở về trại vào cuối ngày thứ ba (tính theo giờ Trái Đất). Họ tìm thấy Holorel đang trong trạng thái mê sảng. Anh kêu gào rằng nhà triết học Platon cố tình không cho anh vào trại; vì vậy anh, Holorel, đã biến thành con gà trống nặng 6 put, không có chiếc lông nào và bằng cách đó anh làm nhục được nhà triết học cùng bạn ông ta là tên người máy.
Người máy Mars đã cho anh uống nước, quấn người anh bằng cái chăn ẩm và làm cho anh một chiếc mái che bằng hai lớp chất dẻo cản nắng.
Trước khi bị ngất đi, Holorel còn kịp viết lại mấy dòng: “Tôi không thể vào trại vì không biết khẩu lệnh. Hãy thông báo cho nhà máy để họ lắp thêm mạch cấp cứu vào các người máy GR ”.
Bitty thử tra hỏi Mars. Gã người máy biết tường tận mọi chi tiết về việc Holorel đã đi quan sát xung quanh, về những người của hành tinh này giống hệt Holorel đã đến trại ra sao…Như vậy có nghĩa là Holorel đã cố tìm cách vào trại nhưng không được.
- Nhưng rồi sao nữa?- Bitty hỏi- Làm thế nào mà anh ta vẫn chui vào trong trại được?
- Ông ấy có “chui ” vào đâu!- Mars trả lời- Tự nhiên ông ta xuất hiện trong trại đấy chứ!
- Thế ông ấy đi qua anh như thế nào?
- Ông ấy không đi qua tôi. Điều đó không thể xảy ra được. Tự nhiên ông Holorel đã ở trong trại, chỉ có thế thôi.
- Tôi chịu, không hiểu gì cả- Bitty nói.
- Xin thú thật, thưa ông, là tôi cũng không hiểu được. Tôi sợ rằng chỉ có ông Holorel mới trả lời được câu hỏi của ông mà thôi.
Bitty và James nghĩ nát óc mà vẫn không thể tìm ra lời giải của bài toán hóc búa này. Nhưng suy nghĩ của họ hoàn toàn không đúng hướng cần thiết. Lẽ ra muốn hiểu được Hlorel đã vào trại bằng cách nào phải xét đến những sự kiện cuối cùng sau đây mà Mars đã được chứng kiến:
…“Nắng, gió, những con chim, những tảng đá, mặt trời, cát. Tôi phải chú ý tới tất cả những cái đó. Tôi phải bảo vệ trại khỏi sự xâm nhập của bọn người ở hành tinh này.
Có một vật gì đó từ phía các tảng đá tiến lại phía trại. Đó là một sinh vật lớn, nó chạy bằng bốn cẳng.
Tôi hạ lệnh cho nó dừng lại. Nó gầm lên với tôi.Tôi lại hạ lệnh một cách gay gắt hơn, tôi lên đạn, tôi dọa nó. Sinh vật đó vẫn gầm gừ và tiếp tục chạy về phía trại.
Nếu là người Trái Đất thì khi hỏi khẩu lệnh họ luôn trả lời đúng. Nếu là người của hành tinh khác, họ sẽ không nói đúng khẩu lệnh.
Cả người của Trái Đất, cả người của hành tinh khác đều biết trả lời khi ta hỏi họ khẩu lệnh, chỉ có trả lời đúng hay không đúng mà thôi.
Có thể không chú ý đến chim và các loài bò sát. Và cũng không cần chú ý đến cái sinh vật to lớn đang bò cạnh tôi nữa.
Tôi không để ý đến sinh vật đó nữa. Nhưng tôi đã mở máy tất cả các bộ phận giác quan của tôi đến công suất tối đa bởi vì ông Holorel còn đi dạo ở nơi nào đó trong sa mạc. Hơn nữa, ở đằng kia, một người của hành tinh này- tên tù binh của ông Holorel- vẫn đang cầu nguyện.
Thế nhưng ông Holorel không hiểu bằng cách nào đã quay về trại. Ông ta nôn mửa, khổ sở vì tình trạng kiệt nước.
Con vật đã bò cạnh tôi thì biến mất không để lại dấu vết gì. Còn tên tù binh của ông Holorel vẫn còn đang tụng kinh sau đống đá kia…”
Thu Hiên
St và Dịch từ tiếng Nga

5 thg 6, 2008

Con người...(kỳ 2)

Con người theo định nghĩa của Platon
(Truyện giả tưởng - kỳ 2)
Regun-5 là một hành tinh rất oi bức, giống như hành tinh Calahari, còn độ ẩm của nó lại nhỏ hơn so với Thung lũng chết! Một ngày ở Regun-5 phải dài bằng hàng trăm giờ Trái Đất. Bây giờ đã là buổi trưa. Đợi đến hoàng hôn còn tới 50 giờ nữa. Chẳng có tí bóng râm nào cả…
Một lúc sau, Holorel nấp kín sau những tảng đá.
Vài phút sau, người máy Mars thấy có một sinh vật bước ra từ sau đống đá, vừa đi vừa huýt sáo.
- Chào Mars- Sinh vật đó lên tiếng.
- Chào ông Holorel- Người máy trả lời..
Holorel dừng lại cách trại chừng mươi bước.
- Tôi đã đi dạo được một lúc rồi. - Anh nói- Trong khi tôi vắng mặt có gì xảy ra không đấy? - Có, thưa ông- Mars trả lời.- Có một người của hành tinh này đến đây và muốn vào trại.
Holorel dướn lông mày lên.
- Hắn ta trông thế nào?
- Hắn giống ông lắm, ông Holorel ạ. Nhưng hắn muốn vào trại mà không nói đúng khẩu lệnh, còn ông Holorel chính cống thì chẳng bao giờ làm chuyện đó cả.
- Ồ, tất nhiên rồi- Holorel nói- Tốt, Marsi (tên gọi âu yếm của Mars) ạ. Chúng ta cần phải theo dõi xem cái loại đó còn xuất hiện nữa không.
- Xin tuân lệnh, thưa ông. Xin cám ơn ông. Tôi cần nói rằng ông phải đi uống nước đi, nếu không ông sẽ bị dẫn đến tình trạng thiếu nước đấy, rất nguy hiểm…
- Không sao đâu Mars ạ. Tôi hoàn toàn không muốn uống nước.- Holorel làm ra vẻ không chú ý tới điều vừa nói ra.
Anh rất hài lòng về mình. Anh đã nghĩ ra rằng , theo cấu tạo thì Mars phải coi các cuộc gặp gỡ là hoàn toàn riêng biệt và chỉ dựa vào những tình huống sẵn có mà hành động. Trong bộ não điện tử của Mars đã có những chương trình lập sẵn: Người Trái Đất bao giờ cũng biết khẩu lệnh; còn người của hành tinh khác không bao giờ biết khẩu lệnh mà lại luôn luôn muốn vào trại. Bởi vậy có thể coi sinh vật không có ý muốn xâm nhập vào trại là người Trái Đất cho đến khi nó chưa tỏ ra muốn vào trại.
Holorel quyết định sẽ lợi dụng điều này. Có thể hy vọng rằng phần còn lại của kế hoạch cũng sẽ được thực hiện không đến nỗi tồi.
- Mars này, - Anh nói - tôi đã quan sát vùng xung quanh và phát hiện ra một điều không thú vị lắm: chúng ta đã dựng trại ngay trên bờ một vùng trũng của hành tinh này. Tôi với anh phải chuyển trại ra phía sau chừng hai dặm. Anh hãy xách mấy thùng nước và đi theo tôi.
- Vâng, chỉ có điều ông hãy gác thay cho tôi.
- Được, tôi sẽ gác thay anh. Anh hãy lui ra nào!
- Tôi không có quyền- Người máy nói- Trước khi đổi gác, ông phải nói khẩu lệnh cũ và cho biết nó được thay bằng khẩu lệnh mới nào.
- Chúng ta không có thời gian để làm các việc hình thức đó đâu…- Holorel nói qua kẽ răng - Nào Mars, tránh ra! Tôi cảm thấy mặt đất dưới chân đang rung lên đây này.
- Ông Holorel, tôi không có quyền làm như thế. Tôi không thể từ bỏ các chức năng của tôi khi ông chưa đổi gác cho tôi. Tôi yêu cầu ông, ông hãy đổi gác cho tôi đi!
- Thôi, đừng lo nữa; có lẽ chúng ta chẳng dời trại nữa đâu.
- Thế còn động đất thì sao?
- Tôi tính lại rồi. Chúng ta còn rất nhiều thời gian so với dự tính ban đầu.
Để tôi đi xem lại một lần nữa xem sao.
Và Holorel lại biến ra sau các tảng đá.
***
Thời gian của một ngày dài vô tận trôi đi thật chậm. Mặt trời đã lui dần về phía chân trời. Người máy Mars vẫn cần mẫn dạo quanh biên giới bảo vệ trại.
Nhưng kìa, giữa các tảng đá cách Mars chừng 20 yard (đơn vị đo chiều dài của Anh, 1yard =0,9144m), một hình người xuất hiện. Có ai đó đang đi theo Mars - đó là Holorel hay là người của hành tinh khác? Mars không suy nghĩ được. Mars chỉ biết giữ thật chặt biên giới của mình. Một con chim rất to đâm bổ xuống một con thú. Có tiếng kêu và những tia máu nhỏ bắn lên một trong những chiếc lều. Con chim cất cánh bay lên, giữ chặt trong mỏ con mồi vừa bắt được.
Mars không chú ý tí nào tới sự việc vừa xảy ra. Nó đang mải theo dõi cái sinh vật hình người đang lảo đảo lê bước về phía trại từ sau các tảng đá. Sinh vật đó dừng lại.
- Chào ông Holorel- Mars nói ngay- Tôi cần phải nói với ông rằng những biểu hiện thiếu nước ở ông thể hiện quá rõ. Tình trạng này sẽ dẫn đến những cơn choáng rồi ngất và sẽ bị chết nếu không kịp thời cứu chữa ngay.
- Im đi!- Holorel cất giọng khàn đặc- Và đừng có gọi ta là Holorel!
- Nhưng sao lại thế, thưa ông?
- Là vì ta không phải là Holorel. Ta là người của hành tinh này.
- Chẳng lẽ lại như vậy sao?
- Ta sẽ chứng minh cho anh thấy. Ta không biết khẩu lệnh. Mà anh biết đấy, người Trái Đất là một sinh vật thông minh, lúc nào cũng biết khẩu lệnh. Còn người của hành tinh khác cũng là người thông minh nhưng lại không biết khẩu lệnh.
- Nhưng dù sao thì tôi cũng không tin - Mars nói. Và Holorel nhận thấy rõ là người máy không tin thật.
Holorel đợi một chút. Một phút sau Mars lên tiếng:
- Thôi được, tôi đồng ý rằng ông là người của hành tinh này. Chính vì vậy mà tôi không cho ông vào trại.
- Nhưng ta có yêu cầu anh cho ta vào đó đâu. Vấn đề là ở chỗ ta là tù binh của Holorel. Ông ấy đã ra lệnh rằng anh hãy giam ta trong khu vực trại và không được thả ta ra khi không có lệnh mới.
- Không!- Mars nói- Tôi không thể cho ông vào trại được. Nhưng tôi có thể giữ ông ở đây, ở ngay đằng trước trại.
- Thế này thật chả ra sao cả!- Holorel cau có nói.
- Rất tiếc là tôi không làm cách nào khác được.
- Thôi được- Holorel ngồi xuống cát- Vậy ta là tù binh của anh.
- Vâng.
- Thế thì anh cho ta uống nước đi.
- Tôi không có quyền.
- Quỷ bắt anh đi! Anh thừa biết là phải đối xử với tù binh của hành tinh khác một cách lịch sự tương xứng với địa vị của họ; và phải bảo đảm đầy đủ mọi điều kiện cần thiết cho sự sống của họ theo như quy định của Hiệp định Giơnevơ và các hiệp định quốc tế khác chứ.
- Đúng, tôi có nghe nói như vậy. Thế ông giữ chức gì?
- Ta là Jemisdar. Số của ta là 12.278.031; và ta rất cần nước, cần ngay, bởi nếu không có nước thì ta chết mất.
Mars suy nghĩ một giây rồi kiên quyết tuyên bố:
- Tôi sẽ cho ông uống nước nhưng với điều kiện là ông Holorel phải uống đã khát đã!
- Thì thôi vậy. - Holorel nói và đứng lên.
- Khoan đã! Đứng lại! Ông đi đâu đấy?
- Ta ra sau những tảng đá kia kìa. Đã đến giờ ta phải cầu nguyện rồi. Trong khi cầu nguyện ta phải ngồi một mình.
- Thế nhỡ ông trốn mất thì sao?
- Trốn làm gì?- Holorel vừa hỏi vừa rời khỏi nơi đang đứng- Nếu ta trốn thì ông Holorel lại sẽ tóm được ta lần nữa.
Vài phút trôi qua. Holorel lại xuất hiện từ sau các tảng đá.
- Ông Holorel đấy phải không ạ?- Mars hỏi.
- Ừ, tôi đây.- Holorel trả lời vui vẻ- Tên tù binh của tôi đã tới đây yên ổn chứ?
- Vâng, thưa ông. Hắn đang ở sau các tảng đá kia kìa. Đang tụng kinh.
- Cứ kệ hắn. Mars này, khi nào hắn tụng kinh xong nhớ cho hắn uống nước ngay nhé.
- Vâng, nhưng ông phải uống trước đã, thưa ông.
- Khỉ ạ, tôi không khát. Chỉ có điều phải làm sao cho cái anh chàng tội nghiệp kia nhận đủ khẩu phần nước của mình là được.
- Tôi không thể cho hắn uống khi ông chưa uống thỏa thích. Trạng thái cạn nước ở ông, như tôi đã nói với ông, đã tăng lên rất rõ. Ông có thể bị ngất bất kỳ lúc nào. Tôi yêu cầu, tôi van ông, ông hãy uống nước đi!
- Thôi được, thế thì đưa bình nước đây nào.
- Ôi, nhưng thưa ông…
- Hả, còn gì nữa thế?
- Ông biết đấy, tôi không thể rời khỏi biên giới trại.
- Thế à! Nhưng vì sao?
- Bởi điều đó trái với quy chế. Hơn nữa đằng sau đống đá kia lại còn có người của hành tinh này.
- Tôi sẽ canh trại giúp anh vậy.
- Ông thật tốt bụng, thưa ông. Nhưng tôi không có quyền làm như vậy. Tôi là người máy GR, là người máy có nhiệm vụ đặc biệt trông giữ trại. Tôi không được giao trách nhiệm này cho ai cả, kể cả người Trái Đất hay một người máy GR khác khi họ không nói đúng khẩu lệnh để tôi có thể đổi gác.
- Biết rồi, biết rồi- Holorel lắp bắp- Xoay đằng nào cũng vậy, kết quả chỉ là một.
Anh lê bước một cách khó khăn về phía các tảng đá. Mars lại tiếp tục canh giữ trại.
***
Holorel mệt nhoài. Cổ họng anh đã khô cứng, phần do khát, phần do những cuộc nói chuyện vô nghĩa với gã người máy ngu ngốc. Còn toàn thân đau nhức bởi bị ánh nắng gay gắt chiếu vào. Anh đã bị cháy nắng, da bắt đầu xạm đen, trông gần giống như con gà tây rán.
Anh giận chính mình đã để lâm vào tình trạng như vậy. Và giờ đây chỉ có nỗi tức giận đó ủng hộ anh thôi. Chỉ có nó mới buộc anh cân nhắc lại tình thế và tìm cách vào trại. (Còn nữa)

4 thg 6, 2008

Con người...(Kỳ 1)

Con người
theo định nghĩa của Platon
(Truyện giả tưởng)
Hạ cánh an toàn xuống Regun - 5, những người trong đoàn thám hiểm dựng trại và mở máy cho người máy GR-22-0134 hoạt động. Người máy được họ đặt tên là Mars. Nhiệm vụ của người máy là canh giữ và bảo vệ trại trong trường hợp đoàn thám hiểm phải đương đầu với cư dân của hành tinh mới này. Trong suốt thời gian bay, mọi người dần dần tin rằng, tuy Mars làm bằng kim loại nhưng là một người thông minh và tốt bụng. Nhưng tất nhiên họ đã nhầm.
***
Anh chàng Mars nhỏ nhắn không ngừng đi lại quanh trại. Các cơ quan cảm giác điện tử được sử dụng với công suất tối đa. Trưởng tàu Bitty và trung úy James đã lên máy bay trực thăng phản lực đi quan sát hành tinh. Còn viên phi công Holorel- một người mập mạp, vui tính- thì ở lại trại để trông coi các thiết bị.
Ăn sáng xong, anh liên lạc với máy bay trực thăng rồi ngồi ngắm phong cảnh. Quanh trại là cả một bình nguyên cát nóng bỏng. Xa xa trên các lớp phún thạch đã nguội và trên các tảng đá có những đàn chim sẻ, thỉnh thoảng lại có những con vật gì đó chạy qua.
Holorel đứng dậy.
- Này Mars, tôi đi dạo một tí đây. Trong khi tôi vắng mặt thì anh là người trông coi chính ở đây đấy nhé.
Người máy dừng bước.
- Ông đã biết khẩu lệnh chưa, ông Holorel?
- Biết rồi. Còn anh?
- Tôi cũng biết, thưa ông.
- Thế thì tuyệt. Thôi, ở lại nhé.
Dạo quanh chừng một giờ, không thấy có gì thú vị, Holorel quay trở về trại.
- Đứng lại!!!- Người máy quát- Khẩu lệnh!
Hai tiếng búng tay khẽ vang lên báo hiệu rằng hắn đang chuẩn bị vũ khí chiến đấu.
Holorel đứng khựng lại.
- Tôi đứng lại rồi đây. Tôi là Holorel. Thế nào, mọi việc ổn cả chứ Mars?
- Xin mời ông cho biết khẩu lệnh.
- “Những chiếc chuông nhỏ”.- Holorel trả lời- Nào, bây gờ thì anh cho phép…
- Không được bước qua biên giới!- Người máy lên tiếng- Khẩu lệnh không đúng.
- Sao lại không đúng? Chính tôi nói cho anh biết khẩu lệnh cơ mà.
- Đấy là khẩu lệnh cũ.
- Cũ à? Anh mất trí rồi!- Holorel kêu lên- Hay là..chẳng lẽ trước khi đi trưởng tàu Bitty đã cho anh khẩu lệnh mới hay sao?
- Vâng- Người máy trả lời.
- Đáng ra tôi phải thấy trước chuyện này mới phải.- Holorel nói. Anh rất bực. Những trường hợp như thế này cũng đã từng xảy ra, nhưng những khi đó trong trại còn có người giúp xoay chuyển tình thế. Đằng này giờ đây không tìm được lối thoát nào…
- Mars ạ- Holorel đàm phán- Ông Bitty nói cho anh khẩu lệnh mới nhưng lại không cho tôi biết về chuyện này. Nhưng cũng dễ sửa điều lầm lẫn này thôi.
- Tôi thành thật mong như vậy- Người máy trả lời.
- Ừ, ừ - Holorel tiếp tục- anh có nhìn thấy cái lều phía sau anh không?
Người máy dùng một mắt ngó chiếc lều, mắt kia vẫn không rời Holorel.
- Có, tôi có thấy.
- Được, trong lều có cái bàn, trên bàn có chiếc cặp bằng kim loại.
- Đúng thế.
- Thật tuyệt. Trong cặp ấy có một tờ giấy ghi những điều quan trọng như tần số tín hiệu cấp cứu và những vấn đề tương tự. Ở góc trên cùng là khẩu lệnh đang dùng viết bằng mực đỏ.
- Điều đó chẳng liên quan gì đến việc hiện tại cả - Người máy nói- Tôi cần ông phải biết khẩu lệnh chứ không phải biết người ta viết nó chỗ nào. Nếu ông nói đúng khẩu lệnh tôi sẽ cho ông vào trại; nếu không nói đúng thì tôi không thể cho ông vào được.
- Đừng có ngu ngốc nữa!- Holorel gào lên- Mars, đây là tôi, Holorel cơ mà! Và anh biết rõ điều ấy chứ. Mà thế thì hãy làm ơn cho tôi vào đi!
- Ông giống Holorel một cách lạ lùng- Người máy thú nhận- Nhưng tôi chỉ có quyền hành động trên cơ sở nhận thức của tôi thôi. Điều chứng minh duy nhất đối với tôi là khẩu lệnh.
Holorel cố nén giận và nói bằng giọng bình thường:
- Mars, hình như anh cho rằng tôi là người của hành tinh này phải không?
- Bởi vì ông không nói đúng khẩu lệnh nên tôi bắt buộc phải nghĩ như vậy…Và đừng có tiến lại gần biên giới! Ông là ai hay là cái gì đi nữa thì cũng phải quay lại!
- Thôi được, thôi được, tôi đi đây- Holorel nói nhanh- Đừng cáu nữa.
Anh rời khỏi biên giới trại, ngồi xuống một tảng đá. Cần phải suy nghĩ một cách nghiêm túc đây.
***
Đã trưa rồi. Mặt trời treo ngay trên đỉnh đầu. Thỉnh thoảng lại có một con chim mệt nhọc bay qua trong bầu không khí nóng bỏng. Những con thú nhỏ thoăn thoắt chạy qua chạy lại.
Cái khát bắt đầu hành hạ Holorel. Nước uống chỉ có trong trại, nhưng muốn vào trại mà không qua người máy là không thể được. Liệu anh có thể chịu khát được bao lâu đây?
(Còn nữa)

10 thg 1, 2008

Vẫn là con chúng tôi (kỳ 4)

Năm mới đã đến.
Trên trời, những con tàu vũ trụ xuyên hành tinh bay qua bay lại, máy bay trực thăng kêu vo vo, cuộn lên những luồng khí nóng của bầu trời California.
Peter bí mật mang về nhà những tấm kính lớn màu xanh da trời và màu xám được đúc bằng phương pháp đặc biệt. Qua các tấm kính đó, anh chăm chú quan sát "con" anh. Không có gì cả. Cái khối chóp đó vẫn là khối hình chóp, cho dù anh có chiếu vào nó tia Rơnghen hay nhìn qua giấy bóng kính. Rào chắn vẫn không vượt qua được. Peter lại bắt đầu lặng lẽ uống rượu.
Mọi việc bất thình lình thay đổi vào đầu tháng Hai. Peter trở về nhà, đang định cho máy bay đỗ xuống thì đã kêu lên vì ngạc nhiên: trên đám cỏ trước nhà anh có một đám rất đông tụ tập. Kẻ đứng, người ngồi, một số thì bỏ đi và nét mặt họ tỏ ra sợ hãi.
Trên sân, Polly đang đi dạo với "đứa con".
Chị đang say bí tỉ. Nắm chặt trong tay cái xúc giác của khối hình chóp màu xanh da trời, chị dắt thằng Pai đi đi lại lại. Chị không nhận thấy chiếc máy bay lên thẳng đã đỗ xuống ra sao, không chú ý gì tới ông chồng khi anh chạy bổ lại phía chị.
Một người hàng xóm quay đầu lại:
- Anh chị có con vật dễ thương quá, anh Hall ạ! Anh kiếm đâu ra nó thế?
Lại một người nào đó kêu tướng lên:
- Rõ ràng là ông bà đã đi du lịch về rồi, ông Hall! Chứ cái của này ở đâu ra, từ Nam Phi chứ gì?
Polly bế cái khối chóp lên.
- Con nói "bố ơi" đi nào! - Chị quát to, lưỡng lự nhìn chồng như nhìn qua màn sương.
- Phi - u- u -! - Khối chóp rít lên.
- Polly!- Peter gọi.
- Nó lành lắm, giống như con cún hay con miu vậy thôi - Polly vừa nói vừa dẫn khối chóp đi lại trên sân - Không, không, đừng sợ, nó không nguy hiểm đâu. Nó đáng yêu lắm, như một đứa trẻ vậy thôi. Chồng tôi mang nó từ Pakistan về đấy.
- Các ông các bà đi đâu thế? - Polly giơ tay vẫy họ - Các vị không thích nhìn con tôi à? Chẳng lẽ nó không xinh xắn hay sao?
Peter tát vào mặt chị.
- Con tôi... - Polly nhắc đi nhắc lại bằng giọng ngắt quãng.
Peter tát liên hồi vào hai má chị, và cuối cùng thì chị cũng im lặng được, hai chân khuỵu xuống. Anh bế chị dậy và đưa vào nhà. Sau đó anh trở ra dắt thằng Pai vào, rồi ngồi xuống và gọi điện thoại đến viện.
- Tiến sĩ Wallcot đấy ạ, tôi là Peter Hall đây. Xin ông hãy chuẩn bị cái máy của ông đi. Hôm nay hoặc không bao giờ nữa.
Một phút yên lặng. Sau đó, Wallcot thở dài đáp:
- Thôi được rồi, anh hãy đưa vợ con anh đến đây. Chúng tôi sẽ thử xem sao.
Cả hai người cùng đặt ống nghe xuống.
Peter ngồi nhìn khối chóp một cách chăm chú.
- Hàng xóm ai cũng trầm trồ kinh ngạc về nó. - Polly nói. Chị nằm trên đi văng, hai mắt nhắm nghiền, đôi môi run rẩy.
Ở tiền sảnh của Viện, sự sạch sẽ vô trùng không chê vào đâu được bao quanh họ. Tiến sĩ Wallcot bước dọc theo hành lang, theo sau là Peter và Polly bế thằng bé Pai trên tay. Họ bước qua một cửa ra vào và rơi vào một căn phòng rộng. Giữa phòng có hai cái bàn, trên mỗi bàn treo một cái lồng che to màn đen.
Cách xa mấy chiếc bàn là những máy móc trông lạ mắt, vô thiên lủng những mặt đồng hồ và tay quay. Có tiếng ù ù rất khẽ. Peter nhìn vợ.
Wallcot đưa cho chị chiếc cốc có đựng một chất lỏng gì đó.
- Chị uống đi. - Ông nói.
Polly vâng lời.
- Được rồi. Mời anh chị ngồi xuống.
Hai vợ chồng ngồi xuống. Tiến sĩ Wallcot nắm hai tay, ngoắc các ngón tay vào với nhau, im lặng nhìn hai vợ chồng họ vài phút.
- Bây giờ, xin anh chị hãy nghe để biết những tháng gần đây, tôi đã làm những gì - Ông nói - Tôi đang cố gắng lôi được đứa bé ra khỏi hệ không gian mà nó bị rơi vào, không hiểu là hệ không gian bốn chiều, năm chiều hay sáu chiều nữa; có đến quỷ cũng chẳng hiểu được. Cứ mỗi lần anh chị đưa cháu đến Viện khám là chúng tôi lại nát óc với nhiệm vụ này. Và trong một chừng mực nào đó, bài toán ấy đã giải được, nhưng đưa cháu bé ra khỏi cái hệ không gian đáng nguyền rủa kia thì tạm thời chúng tôi chưa thể làm được.
Toàn thân Polly héo rũ xuống. Còn Peter thì mắt không rời khỏi vị tiến sĩ để xem ông ấy còn nói gì nữa? Tiến sĩ Wallcot cúi xuống gần hai vợ chồng anh.
- Tôi không thể đưa cháu Pai ra khỏi hệ không gian ấy, nhưng tôi có thể chuyển cả anh lẫn chị sang hệ đó được. Như vậy đấy.
Và ông khoát tay.
Peter nhìn cái máy đặt trong góc phòng.
- Có nghĩa là, ông có thể chuyển chúng tôi sang hệ không gian của cháu Pai ư?
- Nếu anh chị muốn như vậy,
Polly không trả lời. Chị im lặng giữ thằng bé Pai trên đùi chị và không rời mắt khỏi nó.
Tiến sĩ Wallcot giảng giải:
- Chúng tôi đã biết rõ những trục trặc gì về kỹ thuật và về điện đã gây ra tình trạng hiện tại của cháu Pai. Chúng tôi có thể làm tái diễn lại những nhầm lẫn và ảnh hưởng ngẫu nhiên đó. Còn đưa đứa bé trở về hệ không gian của chúng ta thì lại là một việc hoàn toàn khác. Cũng có thể là cho đến khi đạt được sự phối hợp cần thiết sẽ phải tiến hành đến hàng triệu thí nghiệm không thành công. Còn sự phối hợp đã làm cho cháu bé rơi vào một không gian lạ thì chỉ là trường hợp ngẫu nhiên, nhưng rất may là chúng tôi đã nhận thấy và theo dõi được sự ngẫu nhiên đó, chúng tôi có các số liệu do máy móc đo được. Còn đưa cháu trở về từ không gian lạ ấy, thì chúng tôi không có được số liệu nào. Đành phải làm mò mẫm. Cho nên chuyển anh chị vào hệ không gian kia dễ dàng hơn nhiều so với việc đưa cháu Pai về hệ của chúng ta.
- Thế nếu tôi chuyển sang hệ không gian của cháu thì tôi sẽ thấy được cháu với hình dạng bình thường chứ ạ? - Polly hỏi mộc mạc và nghiêm túc.
Wallcot gật đầu.
- Vậy thì tôi muốn chuyển sang đó - Polly nói.
- Khoan đã em, - Peter chen vào - Chúng mình mới ngồi dây có dăm phút mà em đã vội xoá bỏ cả cuộc đời rồi.
- Mặc kệ. Em đến với đứa con thật sự của em cơ...
- Thưa tiến sĩ Wallcot , thế còn từ phía ấy thì sẽ thế nào ạ?- Peter hỏi.
- Bản thân anh chị sẽ không nhận thấy có sự thay đổi nào hết. Anh chị sẽ vẫn trông thấy nhau như vẫn thấy trước đây - vẫn là tầm vóc ấy, vẫn hình dáng ấy. Còn cái khối chóp đối với anh chị sẽ trở thành đứa trẻ thực sự. Anh chị sẽ có thêm một tình cảm mới và sẽ tiếp nhận theo cách khác tất cả những gì anh chị thấy!
- Thế có thể là chúng tôi sẽ biến thành những khối trụ hay khối chóp gì đó thì sao? Và ông, thưa tiến sĩ, đối với chúng tôi ông sẽ không còn là một con người nữa, mà là một khối hình học nào đó chứ?
- Nếu một người mù được phục hồi thị lực thì liệu anh ta có mất khả năng nghe và cảm nhận bằng sờ mó không?
- Không.
- Thế đấy. Anh chớ có dùng phép tính trừ để lập luận. Hãy suy nghĩ bằng cách dùng phép cộng ấy. Anh biết rằng, một con người thì trông thế nào, còn đối với cháu Pai thì nó không có cái hiểu biết ấy khi nó nhìn thấy chúng ta từ hệ không gian của có. Khi đã vào "nơi đó' rồi thì anh có thể thấy tiến sĩ Wallcot vừa là một khối hình học, vừa là người tuỳ ý anh. Chắc chắn là trong vấn đề này, anh sẽ trở thành một nhà triết học chính cống. Nhưng ở đây còn có một vấn đề nữa...
- Vấn đề gì vậy?
- Đối với cả thế giới thì anh, vợ anh và con anh sẽ trở thành những hình thù trừu tượng. Cháu bé là hình khối chóp, vợ anh có thể là hình hộp chữ nhật. Còn anh sẽ trở thành một hình lục giác lớn. Một cơn sốc sẽ chờ đợi tất cả mọi người, chỉ trừ anh chị thôi.
- Thế chúng tôi sẽ trông như quái thai ấy à?
- Đúng thế. Nhưng anh sẽ không cảm thấy mình là quái thai. Chỉ có điều sẽ phải sống kín đáo và cách biệt đấy.
- Cho tới khi các ông tìm được cách đưa cả ba chúng tôi trở về hệ không gian của chúng ta phải không?
- Chính thế. Có thể sẽ là mười năm, có thể hai mươi năm. Tôi không muốn khuyên anh chị bằng lòng làm như thế đâu. Có lẽ rồi cả anh cả chị đều sẽ phát điên lên mất vì cô đơn, vì nhận thức về việc mình không giống như mọi người khác. Nếu như anh chị chỉ có một chút mầm mống của bệnh tinh thần phân lập thôi, thì cái bệnh ấy nó sẽ nổ bùng ra ngay. Nhưng thôi, thế là rõ rồi, anh chị hãy tự quyết định lấy.
Peter nhìn vợ, chị trả lời anh bằng cái nhìn thẳng nghiêm nghị.
- Chúng tôi đồng ý - Peter nói.
- Đồng ý chuyển sang hệ không gian của cháu Pai chứ? - Wallcot hỏi lại.
- Sang hệ không gian của cháu Pai.
Họ cùng đứng lên.
- Chúng tôi sẽ không bị mất đi bất kỳ khả năng nào chứ, thưa tiến sĩ, ông tin là như vậy chứ? Khi chúng tôi sẽ nói chuyện với ông, thì ông có hiểu được chúng tôi không? Chính chúng ta cũng có hiểu được cháu Pai nó nói gì đâu cơ chứ.
- Cháu Pai nó nói cách ấy, bởi vì tiếng nói của chúng ta khi truyền sang hệ không gian ấy thì vang lên như thế. Và nó cứ nhắc lại những gì nó nghe thấy thôi. Còn anh thì khi đã ở trong hệ không gian ấy, anh vẫn nói chuyện với tôi bằng ngôn ngữ tuyệt diệu của con người chứ, bởi anh đã biết nói như vậy rồi. Các hệ không gian không hề làm mất đi tình cảm, khả năng, thời gian và trí tuệ.
- Thế còn với cháu Pai thì sao ạ? Khi chúng tối rơi vào hệ không gian của cháu, thì trước mắt cháu chúng tôi biến ngay thành người chứ? Thế bỗng nhiên việc này đối với cháu lại là một cơn sốc quá đáng thì sao? Liệu việc này có nguy hiểm không?
- Cháu còn bé lắm. Những quan niệm về thế giới của cháu vẫn chưa hoàn toàn hình thành. Tất nhiên là cháu sẽ ngạc nhiên, nhưng giọng nói cũng như mùi của anh chị vẫn như thế, vẫn quen thuộc với cháu, và anh chị cũng sẽ vẫn âu yếm và yêu mến cháu như cũ, mà cái đó mới là cái chính. Không, anh chị và cháu sẽ rất hiểu nhau.
Peter từ từ đưa tay vuốt tóc sau gáy.
- Đúng, đây không phải là con đường đơn giản nhất và ngắn nhất đưa tới đích... - Anh thở dài - Giá như chúng tôi còn có một đứa con nữa thì chuyện này rồi có thể sẽ quên đi được.
- Nhưng chúng ta chẳng đang nói về đứa con ấy thôi. Tôi dám chắc rằng vợ anh chỉ cần chính đứa bé này, chứ không phải là đứa trẻ nào khác, đúng vậy không chị Polly?
- Đứa này, chỉ có đứa này thôi - Polly nói.
Wallcot nhìn Peter với cái nhìn đầy ý vị. Và Peter hiểu ra. Đứa trẻ này - chính vì nó mà Polly chịu mất mát. Đứa trẻ này - chính vì nó mà đến tận cuối đời Polly sẽ ngồi đâu đó trong yên lặng, trong bốn bức tường, trừng trừng nhìn vào không gian bằng cặp mắt lơ đễnh.
Họ cùng bước đến chỗ đặt chiếc máy.
- Biết làm sao được, nếu cô ấy chịu được chuyện này thì tôi cũng sẽ chịu được như thế - Peter nói và dắt tay vợ - Bao nhiêu năm trời tôi đã làm việc hết mình, có nghỉ ngơi cũng không đến nỗi tồi, chúng tôi sẽ tiếp nhận cái hình thù trừu tượng cho thêm phần đa dạng vậy.
- Thật tình là tôi ghen với anh chị đấy - Tiến sĩ Wallcot vừa nói vừa ấn ấn những cái nút gì đó trên cỗ máy lạ. Và tôi còn muốn nói với anh chị điều này nữa: Đấy, rồi anh chị sẽ sống ở đấy và có thể sẽ viết luận văn triết học sao cho các nhà triết học khác phải lăn quay ra vì ghen tị. Có thể là tôi sẽ tìm cách nào đó để đến chơi với anh chị đấy.
- Rất hân hạnh. Chúng tôi cần phải làm gì cho cuộc du lịch đây?
- Chẳng phải làm gì cả. Chỉ cần nằm lên bàn và nằm thật im thôi.
Trong căn phòng vang lên tiếng ù ù. Đó là tiếng của áp suất, của năng lượng và nhiệt lượng.
(Còn nữa)

8 thg 1, 2008

Vẫn là con chúng tôi (Kỳ 3)

Peter lái máy bay về nhà trên những cánh đồng cỏ xanh lượn sóng của vùng Greenfield. Thỉnh thoảng anh liếc nhìn cái khối chóp đang nằm trên tay Polly. Vợ anh đang âu yếm nói chuyện ầu ơ với con và nó cũng trả lời lại theo kiểu như vậy.
- Em muốn biết... - Polly cất giọng.
- Gì cơ?
- Nó thấy chúng mình ra sao nhỉ?
- Anh đã hỏi ông Wallcot . Ông ấy bảo chắc là nó cũng thấy chúng mình lạ kỳ lắm. Nó ở một hệ không gian, còn chúng mình lại thuộc một hệ khác.
- Anh cho rằng nó không thấy chúng mình giống người à?
- Nếu như nhìn nhận vấn đề này bằng con mắt của chúng ta thì là không. Nhưng em đừng quên là nó hoàn toàn không biết gì về con người cả. Đối với nó, hình dạng của chúng mình ra sao thì hẳn đó là phải như thế. Nó đã quen thấy chúng mình như là những hình khối lập phương, hình vuông hay hình chóp, những hình mà từ phép đo của nó chúng mình giống như thế. Nó làm gì có kinh nghiệm nào đâu, nó chẳng có gì để mà só sánh cả. Chúng mình đối với nó rất bình thường. Còn nó làm chúng ta kinh ngạc, bởi chúng ta so sánh nó với những hình dạng và kích thước đã quen thuộc với chúng ta.
- Vâng, em hiểu. Em hiểu rồi.
Đứa bé cảm thấy có sự chuyển động. Một khối lập phương Trắng giữ nó trong những cái chồi ấm. Một khối lập phương Trắng khác ngồi xa hơn; tất cả họ đều ở trong một cái bong bóng- khối elip tròn xoay màu tím. Khối elip tròn xoay chuyển động trong không khí bên trên một khoảng đồng bằng sáng chói rộng bao la, vương vãi đầy những khối hình chóp, hình lục giác, hình trụ, hình cột, hình cầu và các khối lập phương nhiều màu sắc.
Một khối lập phương màu Trắng huýt lên một tiếng gì đó. Khối Trắng kia cũng trả lời bằng tiếng huýt. Cái khối Trắng đang giữ nó đung đưa nhè nhẹ. Nó nhìn hai khối lập phương Trắng, nhìn mọi vật xung quanh đang lướt qua bên ngoài cái bong bóng dài đang bay.
Và nó bỗng thấy buồn ngủ. Nó nhắm mắt lại nghiêng người tựa vào cái khối lập phương Trắng cho thuận tiện hơn và khe khẽ ngáy.
- Nó ngủ rồi - Polly nói.
Mùa hè đến, ở văn phòng xuất nhập khẩu của Peter Hall công việc bận ngập đầu. Nhưng anh vẫn thường xuyên ở nhà vào các buổi tối. Ban ngày thì Polly xoay xở với đứa con không khó khăn gì, nhưng nếu chị phải ở với nó một mình đến khuya là chị hút thuốc lá quá nhiều. Có lần, vào lúc đêm khuya, Peter đã bắt gặp chị nằm ngất xỉu trên đi văng, bên cạnh là chai rượu cônhắc đã uống cạn. Từ đó, đêm đêm anh tự dậy chăm sóc đứa bé. Nó khóc mới lạ kỳ làm sao, lúc thì cứ như là rít lên, lúc thì lại làu nhàu rầu rĩ như một con thú nhỏ quá sợ hãi vì bị lạc vào rừng sâu vậy. Trẻ con chúng không khóc như thế.
Trong phòng trẻ, Peter xây những bức tường cách âm, không để cho âm thanh lọt ra ngoài.
- Anh làm thế này để bà vợ không nghe thấy con khóc à? - Người công nhân giúp anh xây tường hỏi.
- Vâng, để cho cô ấy khỏi nghe thấy - Peter trả lời.
Họ hầu như không tiếp ai ở nhà cả. Họ sợ - biết đâu có ai đó nhỡ vấp phải thằng bé Pai, thằng Pai bé nhỏ, cái khối hình chóp thân yêu của họ.
- Cái gì thế? - Một lần vào buổi tối, một người khách đã hỏi, ông ta ngừng uống cốc cốc tay và chú ý lắng nghe - Có con chim gì đang hót ấy nhỉ? Anh chưa bao giờ cho biết là anh nuôi chim cả, anh Peter nhỉ.
- Vâng, vâng, - Peter vừa trả lời, vừa đóng cửa ra vào phòng trẻ lại - Anh uống nữa đi. Ta uống hết đi nào.
Cứ y như là hai vợ chồng họ đang nuôi chó hay nuôi mèo ấy. Ít nhất thì Polly coi sự việc này như vậy. Peter lặng lẽ theo dõi vợ, để ý xem chị nói với thằng bé Pai những gì, chị âu yếm nó ra sao. Chị thường kể cho anh nghe thằng Pai đã làm gì và xử sự thế nào, nhưng cứ như là kể vụng kể trộm, đôi khi lại còn đưa mắt nhìn quanh phòng, đưa tay xoa trán, xoa má, bóp chặt tay lại, và nét mặt chị trở nên sợ hãi, bối rối, dường như từ lâu chị đang mong đợi ai đó một cách uổng công.
Đến tháng Chín, Polly tự hào mách với chồng:
- Nó biết gọi "bố" rồi đấy. Đúng, đúng, nó biết nói mà. Nào, Pai, con nói đi "Bố".
Và chị nâng cái khối hình chóp ấm áp màu xanh da trời lên cao hơn một tí.
- Phi - u-i! - Khối hình chóp rít lên.
- Lần nữa nào! - Polly nói.
- Phi-u-i!- Cái hình chóp lại rít lên.
- Lạy Trời, em thôi đi! - Peter nói. Anh bế đứa con khỏi tay Polly và đưa nó vào phòng trẻ; và ở đó cái khối chóp lại nhắc đi nhắc lại tiếng gọi, theo cách nó là "bố, bố, bố". Peter vào phòng ăn và rót cho mình một cốc uytski nguyên chất. Polly khẽ cười.
- Có đúng là rất xúc động không nào? - Chị nói - thậm chí giọng nói của nó cũng thuộc hệ không gian bốn chiều. Đấy, rồi đến khi nó học nói được thì sẽ đáng yêu lắm! Chúng ta sẽ dạy nó học thuộc đoạn độc thoại của Hamlet và nó sẽ đọc thuộc lòng, và cái đoạn độc thoại ấy nghe sẽ giống cái gì nhỉ… Chúng ta gặp may thật, đúng thế không? Cho em uống với.
- Em đã uống rồi, thế là đủ.
- Thôi, cám ơn, tự em em cũng rót lấy được - Polly trả lời.
Và chị làm thế thật.
Hết tháng Mười, sang tháng Mười một. Thằng bé Pai bây giờ đã học nói. Nó rít, nó kêu chút chít, còn khi nào đói thì nó kêu leng keng như cái lục lạc. Tiến sĩ Wallcot vẫn đến thăm gia đình Hal.
- Nếu như đứa bé toàn thân màu xanh da trời sáng thì có nghĩa là nó khoẻ mạnh - Một lần ông nói - Còn nếu màu xanh tối đi, nhợt đi, thì có nghĩa là nó ốm. Anh chị hãy nhớ kỹ điều này.
- Vâng, vâng, tôi nhớ rồi, - Polly nói - Sáng chói như trứng sáo là nó khoẻ, còn xanh da trời tối như côban là ốm.
- Chị biết không, bà bạn thân mến của tôi, - Wallcot nói - chị hãy uống lấy vài viên thuốc này, còn ngày mai hãy đến chỗ tôi, chúng ta sẽ nói chuyện. Tôi chẳng thích cái cung cách chị nói chuyện tí nào cả. Chị thè lưỡi tôi xem nào! Hừ... Sao, chị uống rượu à? Cả ngón tay cũng đầy vết khói vàng nữa này. Phải giảm hút thuốc lá đi hai lần. Thôi, hẹn đến mai nhé.
- Ông chẳng giúp tôi gì cả, - Polly phản đối - Gần một năm trời rồi còn gì nữa.
- Bà Hal thân mến ơi, tôi không thể để chị ở trạng thái căng thẳng thường xuyên được. Chỉ cần cỗ máy của chúng tôi được hoàn chỉnh là chúng tôi sẽ thông báo cho anh chị ngay thôi. Chúng tôi làm việc không nghỉ ngơi chút nào. Sắp tới sẽ tiến hành thử nghiệm. Còn bây giờ chị hãy uống thuốc đi và phải nín lặng nhé.
Tiến sĩ véo nhẹ "cằm" thằng bé Pai,
- Một chú bé cực kỳ khoẻ mạnh, nói thật đấy! Và cân nặng không thể dưới hai mươi fut được.
Đứa bé nhận ra từng tiếng bước chân của hai khối Trắng đáng yêu luôn luôn có mặt cạnh nó khi nó không ngủ. Còn có một khối lập phương nữa, khối Xám, nhưng khối Xám không phải ngày nào cũng thấy. Cái khối Trắng có các cạnh tròn thì ấm hơn và mềm hơn, thường hót ríu ra ríu rít. Khối Trắng ấy vẫn cho nó ăn. Đứa bé thích lắm. Nó đang lớn dần. Mọi việc đều quen thuộc và trôi chảy.
(Còn nữa)

3 thg 1, 2008

Vẫn là con chúng tôi (Kỳ 2)

Peter đứng dậy, bước tới bên chiếc bàn; một làn ánh sáng nhẹ, ấm áp rọi từ phía trên xuống mặt bàn. Anh đưa tay ra - và cái khối chóp màu xanh hơn nhô lên một tí. Anh lên tiếng:
- Xin chào, chú nhóc!
Khối hình chóp nhìn anh bằng cả ba con mắt long lanh màu xanh da trời. Một chiếc xúc giác tí xíu cũng màu xanh ấy chìa ra và đụng vào mấy ngón tay của anh.
Anh giật nẩy người:
- Chào bé!
Tiến sĩ Wallcot đưa chai sữa có núm vú lại gần hơn:
- Đây, sữa đây. Nào, ta nếm thử nhé.
Đứa bé dương mắt lên. Trước mắt nó, màn sương mờ tan dần. Có những thân hình đang cúi mình xuống với nó, và nó hiểu ngay rằng đó là những người bạn. Nó vừa mới ra đời, thế mà rất sáng ý, sáng ý đến kỳ lạ. Nó đã cảm nhận được thế giới xung quanh.
Bên trên nó và quanh nó có cái gì đó đang chuyển động. Sáu khối lập phương màu xám trắng đang nghiêng về phía nó, và họ đều có sáu cái chồi hình lục giác, đều có ba con mắt. Rồi có thêm hai khối lập phương nữa đang tiến lại gần nó theo một mặt phẳng trong suốt. Một khối trắng tinh. Cả khối ấy cũng có ba con mắt. Có cái gì đó trong cái khối lập phương trắng ấy làm đứa bé rất thích. Có cái gì đó lôi cuốn lắm. Và từ cái khối trắng ấy tỏa ra một mùi rất thân thiết.
Sáu khối lập phương màu trắng xám quanh nó đang phát ra những âm thanh cao vút đến chói tai. Chắc là họ đang thích và đang ngạc nhiên. Cứ như là người ta đang thổi cùng một lúc sáu cái sáo picolo vậy.
Bây giờ thì hai khối mới đến - khối Trắng và khối Xám- lại rít lên. Sau đó, khối Trắng chìa một trong sáu cài chồi hình lục giác ra và sờ vào nó. Để trả lời lại, nó cũng chìa một xúc giác của nó ra. Đứa bé rất thích khối lập phương Trắng. Đúng thế, rất thích. Nó đang đói. Nó thích khối Trắng: Có thể khối Trắng sẽ cho nó ăn đây...
Khối Xám đem đến cho nó một quả cầu màu hồng. Bây giờ họ sẽ cho nó ăn đấy. Thích, thích quá. Đùa bé đón nhận thức ăn một cách tham lam.
Được lắm, ngon lắm. Những khối lập phương màu trắng xám biến đi đâu mất, chỉ còn lại một mình khối Trắng dễ chịu ấy ở lại. Khối Trắng đứng bên nó, nhìn nó và khe khẽ huýt sáo. Cứ huýt sáo mãi.
Ngày hôm sau họ nói cho Polly biết. Không phải là nói hết. Chỉ mới nói những điều cần thiết nhất thôi. Chỉ mới nói bóng gió xa xôi thôi. Họ nói rằng, có một số điều nào đó không ổn đã xảy ra với đứa bé. Họ nói dần dần, quanh co như những vòng tròn ngày càng thắt nhỏ lại quanh Polly. Sau đó, tiến sĩ Wallcot đọc một bài giảng dài dòng về những chiếc máy đỡ đẻ, về việc chúng giúp cho người sản phụ vượt qua dễ dàng những cơn đau đẻ ra sao, thế mà lần này lại bị đoản mạch. Còn nhà khoa học khác là ông chồng chị thì lại nói một cách ngắn gọn và khô khan về những phép đo khác nhau, điểm từng phép đo một trên đầu ngón tay, rất rõ ràng: phép đo một chiều, hai chiều, ba chiều và bốn chiều ! Lại còn một người khác nữa giảng giải cho chị về vấn đề năng lượng và vật chất. Lại một người khác nói về con cái của những người nghèo không được hưởng lợi ích của sự tiến bộ.
Cuối cùng, Polly ngồi dậy trên giường và nói:
- Sao các ông cứ phải nói vòng vo như thế để làm gì nhỉ? Việc gì xảy ra với con tôi vậy? Và tại sao tất cả các vị đều nói nhiều đến vậy?
Đến lúc đó tiến sĩ Wallcot mới nói hết sự thật với chị .
- Tất nhiên, một tuần nữa bà có thể nhìn thấy nó - Rồi ông nói thêm - Hoặc là, nếu bà muốn, bà hãy chuyển nó cho Viện chúng tôi trông nom cho.
- Tôi chỉ cần biết một điều thôi - Polly nói. Tiến sĩ Wallcot nhướn mày tỏ ý hỏi xem đó là điều gì.
- Có phải là tôi có lỗi trong chuyện nó sinh ra như thế không?
- Bà không hề có lỗi gì trong chuyện này cả,
- Nó không phải là quái thai, là con quái vật chứ? - Polly cố gạn thêm.
- Nó chỉ bị rơi vào một hệ không gian khác mà thôi. Còn về mọi mặt nó hoàn toàn là một đứa trẻ bình thường.
Polly không nghiến chặt răng nữa, những nếp nhăn nơi khoé môi chị giãn ra. Chị nói đơn giản:
- Thế thì hãy mang con tôi lại đây cho tôi. Tôi muốn trông thấy nó. Xin hãy mang lại. Ngay bây giờ.
Người ta đem "con" đến cho chị.
Ngày hôm sau hai vợ chồng họ rời bệnh viện. Polly bước một cách vững vàng và rắn rỏi, còn Peter đi theo sau, vừa đi vừa ngạc nhiên về vợ mình.
Đứa bé không về cùng họ. Người ta sẽ mang nó về sau. Peter giúp vợ lên máy bay, ngồi xuống cạnh chị.
Và chiếc máy bay lên thẳng vừa kêu vo vo vừa bay nhanh lên tầng cao ấm áp.
- Em tuyệt thật đấy!- Peter nói.
- Lại còn thế nữa cơ à? - Chị vừa trả lời, vừa hút thuốc lá.
- Chứ sao nữa. Thậm chí không thèm khóc. Em cừ thật.
- Anh biết không, khi biết nó rõ hơn thì thấy nó hoàn toàn không tồi đâu - Polly nói - Em ... em thậm chí còn có thể bế nó được: Nó ấm và nó khoẻ, lại phải thay tã cho nó nữa, cho dù những cái tã ấy hình tam giác - chị cất tiếng cười. Nhưng trong tiếng cười ấy Peter nghe thấy có những nốt rung đau đớn - Không, em không khóc đâu, anh Pet (tên gọi âu yếm của Peter) ạ, bởi đấy là con em cơ mà. Hoặc rồi sẽ là con em. Lạy Trời, may mà nó sinh ra lại không chết. Nó... em không biết giải thích cho anh thế nào... nó vẫn còn chưa sinh ra hoàn toàn đâu. Em đang chờ đợi khi con chào đời. Em rất tin tiến sĩ Wallcot. Còn anh thì sao?
- Ừ, ừ. Em nói đúng đấy- Peter nắm lấy cánh tay vợ- Em có biết là anh sẽ nói gì với em không? Em thật là cừ khôi.
- Em sẽ đứng vững được - Polly nói, mắt nhìn thẳng về phía trước và không hề nhận thấy những khoảng rộng bao la màu xanh lá cây đang lướt qua bên dưới. - Khi mà em còn tin rằng điều tốt lành đang đợi ta ở phía trước thì em không cho phép mình dằn vặt và đau khổ. Em sẽ đợi khoảng nửa năm, rồi sau đó có thể là em sẽ tự tử.
- Polly!
Chị đưa mắt nhìn chồng như thể mới trông thấy anh lần đầu vậy:
- Tha lỗi cho em, anh Pet. Nhưng mà không thể như thế được, không thể xảy ra như thế được. Khi mọi việc sẽ kết thúc và đứa trẻ sinh ra như bình thường, em sẽ quên ngay lập tức tất cả mọi chuyện, quên cứ như là chưa có gì xảy ra ấy. Nhưng nếu như bác sĩ không giúp được chúng mình thì lý trí không thể điều khiển nổi chuyện này nữa, lý trí chỉ đủ để ra lệnh cho cơ thể trèo lên mái nhà và nhảy xuống mà thôi.
- Mọi việc sẽ qua đi em ạ. - Peter nói, tay xiết chặt cần lái - Thế nào cũng sẽ qua thôi.
Polly không trả lời, chỉ thở ra một làn khói thuốc lá và đám mây ấy tan biến ngay trong cái xoáy không khi dưới cánh chong chóng của máy bay.
Ba tuần trôi qua. Ngày nào họ cũng bay đến Viện để thăm thằng bé Pai. Polly đã đặt cho cái khối chóp màu xanh cái tên bình dị như vậy. Khối chóp ấy vẫn đang nằm trên chiếc bàn ngủ ấm áp và nhìn họ dưới làn mi dài. Tiến sĩ Wallcot không quên nhắc đi nhắc lại với ông bố và bà mẹ rằng, đứa trẻ cư xử không khác gì các trẻ sơ sinh khác, nó cũng ngủ chừng ấy giờ, thức từng ấy giờ, lúc thì yên lặng, lúc lại không, giống y như mọi trẻ sơ sinh khác, và cũng ăn như vậy, cũng làm bẩn tã lót như thế. Polly nghe kỹ mọi chuyện và nét mặt chị giãn ra, cặp mắt trở nên ấm áp hơn.
Cuối tuần thứ ba, tiến sĩ Wallcot nói:
- Liệu ông bà đã đủ sức đón cháu về nhà chưa? Ông bà sống ở ngoại ô cơ mà, có đúng thế không? Thế thì tuyệt lắm, nhà ông bà có sân, như vậy đôi khi đứa trẻ có thể đi dạo ngoài trời nắng được. Nó rất cần tình cảm của người mẹ. Nói chuyện này thì hơi nhàm tai đấy, nhưng không thể chối cãi sự thật ấy được. Nó phải được bú mẹ. Tuy nhiên, chúng tôi cũng đã thoả thuận rồi: ở nơi mà người ta cho nó ăn bằng một chiếc máy mới đặc biệt cũng tạo được cả giọng nói dịu dàng, cả những bàn tay ấm áp và các thứ khác cho nó - Tiến sĩ Wallcot nói khô khan, nhát gừng - Nhưng tôi có cảm giác rằng đây là một đứa trẻ hoàn toàn khoẻ mạnh. Bà đã sẵn sàng với việc này chưa, thưa bà Hal?
- Vâng, tôi đã sẵn sàng.
- Tuyệt lắm. Cứ ba ngày một lần, ông bà hãy đưa cháu đến khám. Đây là chế độ sinh hoạt của cháu và những điều căn dặn cần thiết. Hiện nay chúng tôi đang nghiên cứu một số khả năng, bà Hall ạ. Đến cuối năm nay chúng tôi hy vọng sẽ đạt được điều gì đó. Tôi không thể hứa chắc chắn bây giờ được, nhưng tôi có cơ sở để cho rằng chúng tôi sẽ lôi được chú bé này ra khỏi hệ không gian bốn chiều, giống như người làm ảo thuật lôi con thỏ từ trong cái mũ ra vậy.
Trước sự ngạc nhiên và hài lòng của tiến sĩ, để đáp lại bài diễn văn ấy của ông, Polly đã ôm lấy ông mà hôn.
(Còn nữa)

1 thg 1, 2008

Mở hàng Năm Mới 2008

Thế là sang Năm Mới. Tết dương lịch, không lo cỗ bàn, thăm hỏi gì nhiều lắm nên có thể chơi được.
Theo lịch âm thì hôm nay là ngày có sao Kiến - là kiến lập, khai tạo ra cái mới. Vì vậy mọi việc khởi sự đều tốt (trừ động thổ- không hiểu tại sao). Cho nên tôi cũng mở hàng ThienLuong05's Blog bằng một truyện giả tưởng thứ hai sau truyện "Đấng cứu thế". Truyện mới này của một tác giả nổi tiếng của Mỹ: Ray Bredbery. Truyện tương đối ngắn gọn, kết thúc có hậu, theo cách rất...giả tưởng.
Hi vọng năm 2008 này sẽ có nhiều điều tốt.
Bây giờ mời các bạn bắt đầu theo dõi nhé.
Truyện giả tưởng
VẪN LÀ CON CHÚNG TÔI... (kỳ 1)
Peter Hal hoàn toàn không định làm cha của một khối chóp xanh da trời. Anh cũng chưa bao giờ nghĩ tới việc là sẽ có chuyện như thế. Anh với vợ anh chẳng hề mơ thấy có việc như vậy sẽ xảy ra với họ. Họ bình tâm chờ đợi sự ra đời của đứa con đầu lòng, thường nói về đứa trẻ sắp ra đời, ăn uống bình thường, ngủ đẫy giấc, thỉnh thoảng họ còn tới nhà hát, rồi sau đó đã đến lúc Polly phải lên máy bay lên thẳng để đến Viện Hộ sinh. Chồng chị ôm hôn chị.
- Sáu tiếng nữa là em sẽ lại ở nhà rồi, em bé bỏng của anh ạ - Anh nói - Cám ơn những chiếc máy đỡ đẻ, mặc dù không thay thế được các ông bố, nhưng chúng sẽ làm mọi việc cần thiết cho em đấy.
Chị nhớ lại lời một bài hát từ cổ xưa, xa xưa lắm rồi, có một câu "không, các ông không thể không công nhận đó là của tôi". Chị khe khẽ hát, và khi chiếc máy bay lên thẳng lướt nhanh trên dải đồng bằng màu xanh hướng về phía thành phố, cả hai vợ chồng cùng mỉm cười.
Vị bác sĩ, tên là Wallcot, rất bình tĩnh và tự tin. Người ta chuẩn bị mọi công việc cần thiết cho Polly-Ann, bà mẹ tương lai; còn ông bố, thì theo như lệ thường, được mời sang phòng khách - tại đây có thể hút thuốc lá hết điếu này đến điếu khác hoặc tự pha cho mình vài cốc coctail. Peter cảm thấy khá thoải mái. Tuy đây là đứa con đầu lòng của họ, nhưng chẳng có gì đáng lo ngại cả. Vợ anh đang trong những bàn tay đáng tin cậy.
Một giờ sau bác sĩ Wallcot bước vào phòng khách. Trông ông xám ngoét như người chết vậy. Peter Hal đứng lặng người với cốc coctail trên tay. Anh xiết chặt chiếc cốc và thì thầm:
- Cô ấy chết rồi ư?
- Không- Tiến sĩ Wallcot khẽ đáp - Không - Không. Chị ấy sống và khoẻ mạnh. Nhưng đứa con thì...
- Có nghĩa là con tôi đã chết?
- Cả đưa con cũng sống, nhưng... Anh uống hết cốc đi và đi với tôi. Có chuyện xảy ra đấy.
Đúng, không nghi ngờ gì nữa, đúng là có chuyện thật. Một chuyện gì đó làm náo động cả nhà hộ sinh. Mọi người ùa cả ra hành lang, chạy đi chạy lại từ phòng này sang phòng khác. Trong khi đi theo bác sĩ, Peter Hal bắt đầu khó chịu; khắp mọi nơi, các cô y tá và hộ lý mặc áo blu trắng đứng túm tụm thành từng nhóm, đưa mắt nhìn nhau mà thầm thì:
- Không, các cậu đã nhìn thấy rồi chứ? Đứa con của ông Peter Hal ấy? Không thể tin được!
Bác sĩ dẫn anh vào một phòng nhỏ rất sạch sẽ. Quanh chiếc bàn thấp có rất nhiều người. Một vật gì đó đang nằm trên bàn.
Đó là một khối hình chóp màu xanh da trời.
- Ông dẫn tôi đến đây làm gì? - Peter hỏi.
Cái hình chóp màu xanh kia động đậy. Và nó khóc.
- Không lẽ... Đây chính là nó?...
Tiến sĩ Wallcot gật đầu.
Trên khối hình chóp có sáu cái chồi nhỏ mềm màu xanh da trời, và trên ba cái cọc nhỏ là ba con mắt đang chớp chớp.
Peter đứng ngây người ra.
- Nó cân nặng bảy fun và tám unxia (1 fun = 452,6g; 1unxia = 29,86g- các chú thích là của người dịch) - có ai đó nói
"Họ lừa mình đấy mà,- Peter nghĩ- Đây chỉ là trò đùa. tất cả cái trò này chắc là do thằng cha Chally Rascol gây ra đây. Đấy, ngay bây giờ nó sẽ thò đầu vào cửa và hét "Chúc mừng ngày Mồng Một tháng Tư”cho mà xem, và mọi người sẽ cười phá cả lên (Ở Châu Âu, ngày 1/4 là ngày nói dối; vào ngày đó, mọi người có thể nói dối trêu đùa nhau mà không ai giận ai). Không, đúng là họ lừa mình đấy thôi"...
Hai chân Peter như dính chặt vào sàn nhà, mồ hôi chảy ròng ròng trên mặt anh.
- Hãy cho tôi ra khỏi đây!
Anh quay người lại, tay nắm vào rồi lại xoè ra mà không hề biết, hai mí mắt thì giật giật.
Ông Wallcot khoác tay anh và ôn tồn nói:
- Đây là con ông, xin ông hãy hiểu cho, thưa ông Hal.
- Không, không, không thể như thế được - Một chuyện như vậy anh không thể nào nghe lọt tai được - Đây là một con quái vật gì ấy chứ. Phải giết nó đi.
- Chúng tôi không phải là những kẻ giết người. Không thể giết chết một con người được.
- Con người ư? - Peter lau nước mắt - Đó không phải là người, nói thế là phỉ báng đấy.
- Chúng tôi đã khám... đứa trẻ này và đã xác định rằng nó không phải là sự đột biến, không phải là kết quả của sự rối loạn gen hay sự sắp xếp lại các gen - Tiến sĩ nói nhanh - Đứa trẻ không phải là quái thai. Và nó hoàn toàn khoẻ mạnh. Xin ông, ông hãy chịu khó lắng nghe tôi nói.
Peter nhìn trừng trừng vào bức tường, mắt mở to đau khổ. Anh lảo đảo. Tiến sĩ Wallcot vẫn tiếp tục nói điềm đạm và tự tin.
- Trong khi đẻ, áp suất đã báo động một cách đặc biệt lên đứa bé. Có cái gì đó trục trặc cùng một lúc ở cả hai chiếc máy mới - một máy đỡ và một máy gây ngủ, đã xảy ra đoản mạch và do đó phép đo không gian bị sai lệch đi. Tóm lại là, - vị tiến sĩ lúng túng nói nốt, - con ông đã sinh ra trong... một hệ không gian khác.
Peter thậm chí chẳng gật đầu nữa. Anh cứ đứng và chờ đợi.
- Con ông sống, khoẻ mạnh và nó tự cảm thấy rất thoải mái. - Tiến sĩ Wallcot cố thuyết phục - Đấy, nó đang nằm trên bàn ấy. Nhưng nó trông không giống người, vì nó sinh ra trong một phép đo khác. Cặp mắt của chúng ta do đã quen nhìn mọi vật trong phép đo ba chiều rồi, cho nên không thể nhìn thấy hình người ở đứa bé này được. Nhưng dù sao, nó cũng vẫn là một đứa trẻ. Mặc dù trông mặt mũi nó lạ lùng như thế, thân thể hình chóp lại có các xúc giác, nhưng đây chính là con ông đấy!
Peter mím chặt môi và nheo mắt lại.
- Tôi có thể uống chút gì được không?
- Tất nhiên là được.
Người ta đưa tận tay anh chiếc cốc.
- Cho tôi ngồi lại một tí.
Anh nặng nề, mệt mỏi gieo người xuống ghế bành, dần dần mọi việc bắt đầu sáng tỏ. Mọi chuyện từ từ trở về đúng vị trí của chúng. Dù có gì đi nữa thì đây cũng là con anh. Peter rùng mình. Dù nhìn ngoài nó là con ngoáo ộp, nhưng đây vẫn là đứa con đầu lòng của anh.
Cuối cùng, anh cũng đã ngẩng đầu lên. Hãy cố sao cho khuôn mặt vị tiến sĩ đừng có nhoè đi trước mắt...
- Thế chúng ta nói gì với Polly bây giờ? - Anh hỏi, gần như không ra tiếng nữa.
- Sáng mai, khi anh lấy lại được sức lực một chút, chúng ta sẽ nghĩ ra cách gì đó.
- Còn sau đó sẽ ra sao? - Liệu có thể cho chúng trở lại... hình dáng bình thường được không?
- Chúng tôi sẽ cố gắng. Tất nhiên, nếu như ông bà cho phép. Rốt cuộc thì nó vẫn là của ông bà. Ông bà hoàn toàn có quyền cư xử với thằng bé này theo ý ông bà.
- Với thằng bé này ư? - Peter cười đau khổ, anh lấy tay che hai mắt lại - Mà sao ông lại biết được rằng đó là một "thằng bé"?
Bóng tối hút lấy anh, có tiếng ù ù trong tai.
Tiến sĩ Wallcot rõ ràng là bị cuống lên.
- Ông có thấy không... Có nghĩa là...tất nhiên rồi, là chúng tôi không thể nói chắc chắc được...
Peter uống thêm một hớp nước nữa,
- Thế nếu như các ông không làm cho nó trở về bình thường được thì sao?
- Tôi rất hiểu rằng, đây là một đòn làm ông choáng váng, thưa ông Hall. Biết làm sao được, nếu như nhìn thấy nó ông không chịu được, thì chúng tôi sẵn sàng xin nuôi nó ở đây, ở Viện này.
Peter ngẫm nghĩ một lát.
- Cám ơn. Nhưng dù nó có thế nào đi nữa thì nó vẫn là con của chúng tôi - của tôi và của Polly. Nó sẽ ở với chúng tôi. Tôi sẽ nuôi nó như nuôi bất cứ đứa con nào khác. Nó sẽ có nhà cửa, sẽ có một gia đình. Tôi sẽ cố yêu lấy nó. Và tôi sẽ đối xử với nó như cần phải đối xử theo lẽ thường.
Cặp môi của Peter cứng đờ, không còn nói rõ được ý mình nữa.
- Ông có hiểu rằng ông đang nhận cho mình cái gì không, thưa ông Hal? Đứa bé này sẽ không được phép có bạn bè như bình thường được, nó sẽ không có ai cùng chơi được, bởi chỉ cần bị trêu ghẹo đôi chút là nó có thể bị thương đến chết ngay. Ông biết thừa trẻ con là thế nào rồi. Nếu như ông quyết định nuôi nó ở nhà thì sẽ phải giam hãm nó suốt đời, không một ai và không bao giờ được phép trông thấy nó cả. Ông hiểu điều này chứ?
- Vâng, tôi hiểu... Bác sĩ... Thưa bác sĩ, thế về mặt trí tuệ nó bình thường chứ ạ?
- Vâng, chúng tôi đã nghiên cứu phản xạ của nó. Về mặt này, nó hoàn toàn là một đứa trẻ khoẻ mạnh.
- Tôi chỉ muốn biết một cách chắc chắn thôi. Bây giờ chỉ còn một vấn đề - đó là Polly.
Tiến sỹ Wallcot chau mày lại.
- Xin thú thật là tôi cũng đang nát óc đây. Tất nhiên là đối với một người phụ nữ, thật đau đớn khi nghe tin con mình đẻ ra đã chết. Thế mà đằng này lại còn... phải nói với người mẹ rằng, bà ấy đã sinh ra đời một vật gì đó không ai hiểu, và không giống người tí nào cả? Còn tệ hơn là cái chết nữa. Một sự chấn động như thế có thể gây tử vong. Thế mà tôi vẫn cứ phải nói sự thật với bà ấy. Người thầy thuốc không được phép lừa dối bệnh nhân, làm như vậy sẽ chẳng mang lại ích lợi gì cả.
Peter đặt cái cốc xuống:
- Tôi không muốn bị mất cả Polly nữa. Tôi thì đã sẵn sàng chấp nhận; cả đến việc các ông làm hại đứa trẻ nữa, tôi cũng sẽ chịu đựng được; nhưng tôi sẽ không cho phép để câu chuyện này giết mất Polly.
- Tôi vẫn hy vọng rằng, chúng tôi sẽ chuyển được đứa trẻ trở về hệ không gian của chúng ta. Chính điều đó làm tôi lưỡng lự. Giá tôi biết chắc rằng không còn chút hy vọng gì đi nữa thì tôi sẽ thấy rõ thà cứ để cho đứa trẻ chết đi. Nhưng tôi lại nghĩ rằng, chưa phải đã mất hết hy vọng, cần phải cố thử xem sao.
- Thôi được, bác sĩ ạ. Lúc này nó đang cần được ăn, cần được bú sữa và cần tình thương. Nó đã không gặp may rồi thì hãy cứ để cho mọi việc tiếp theo được đối xử một cách công bằng. Thế khi nào thì chúng ta báo cho Polly?
- Trưa mai, khi bà ấy tỉnh dậy.
(Còn nữa)
Trần Thị Thu Hiên (Trần Thu)
dịch từ tiếng Nga

29 thg 12, 2007

Đấng cứu thế (Kỳ cuối)

- Ngài Kvasmu , - tôi kêu lên, giọng khàn khàn, - thế những con chó của ngài ...
- Anh đoán đúng đấy. Đó là những bạn đồng nghiệp đã không chia sẻ quan điểm cùng tôi. Điều đó rất nguy hiểm cho việc thực hiện công việc. Mà tôi thì đã hy vọng rất nhiều ... - Lão ta dừng lại ngay chỗ cửa ra vào - Mười lăm năm trời tôi đã chuẩn bị tinh thần cho họ để tiến tới việc này dần dần từng tí một. Giá mà anh được thấy họ đã biến đổi một cách tuyệt vời như thế nào nhỉ. Mỗi người đều trở thành như thực tế họ vốn vậy. Ở đây thực ra chỉ có hai người là đáng giá thôi mà đến bây giờ ta vẫn thấy thiếu họ vô cùng. Và khác với cả bọn, họ đã biến thành những con chó thực thụ.
- Có phải là con chó đen và con bécgiê không?
- Chính chúng đấy. Thôi chúc anh ngủ ngon! - Lão già mở cửa và biến đi.
Ti vi vẫn làm việc, hình ảnh vẫn câm lặng và vô nghĩa như ban nãy.
Nhạc của Bách đã im tiếng từ lâu.
"Lão ấy đã truyền vrius vào mình chưa nhỉ? - Trong óc tôi cháy bỏng nghi ngờ. - Liệu lão đã kịp làm việc đó chưa? Và làm bằng cách nào - chẳng lẽ lại trong chai nước "Pepsi" hay trong mấy khoanh bánh mì nướng hay sao ..."
Tôi nguyền rủa cái ngày giờ mình đã lên đường để tới nơi đây.
"Chắc là lão chưa kịp. - Cuối cùng tôi khẳng định - Lão chỉ mới tiến hành những bước đầu tiên. Còn ngày mai ..."
Phải trốn thôi!
Cả lũ chó, cả những điều kỳ dị trong khu vườn sinh thái của lão già đều không thể làm tôi sợ nữa. Có thể đàm phán với lũ chó được một khi trước đây chúng đã là người. Mà biết đâu họ cũng chẳng phải một dạ vâng lời lão đến vậy. Chắc là họ làm việc chỉ xuất phát từ hy vọng rằng sẽ đến ngày lão giải thoát cho họ, ít nhất cũng chỉ là để làm tay sai cho lão.
Tôi thận trọng đứng lên, bước vài bước thật êm. Đầu đau như búa bổ và hàng ngàn ý nghĩ tràn ngập như bão tuyết trong tôi.
Hành lang dài thăm thẳm và tối om. Nhưng trí nhớ dai của tôi đã giúp tôi: tôi nhớ lại khá rõ cách sắp xếp bàn ghế nên đã đi qua tất cả mà không gây ra tiếng động nào.
Đã đến cửa ra vào.
Tôi mò thấy mấy chiếc móc khoá và một cái then cài bằng kim loại rất chắc. Tôi nhẹ nhàng nhấc then cài lên, không có tiếng động. Hai móc khoá phía trên cũng chỉ rít khẽ thôi. Nhưng tôi chết lặng đi khi chú ý lắng nghe, tai như bị chói cả lên bởi tiếng đập của chính trái tim mình.
Đâu đó có tiếng bước chân thận trọng, lén lút. Nghe xa lắm. Hình như bước chân trên cầu thang thì phải.
Tôi mở móc khoá thứ ba, cũng là chiếc cuối cùng nhưng nó lại tỏ ra cứng cổ nhất. Khi cuối cùng tôi cũng tìm hiểu được hệ thống móc khoá đó thì nó mở ra và kêu rõ to. Tiếng khoá kêu to đến mức tôi lại chết lặng đi lần nữa.
- Berni! - Tiếng gào của người bị bệnh thần kinh vang lên - Tránh xa cửa ngay lập tức! Anh điên rồi!
Tôi kéo giật cánh cửa về phía mình, không nghĩ ngợi gì cả. Không mở được. Tôi chợt nhớ là nó mở ra phía ngoài và liền đẩy cánh cửa về phía trước.
- Dừng lại! - Một giọng kêu thất thanh,
Tôi đã định co cẳng chạy nhưng một con vật to, lông xù đã lao vào tôi và cắn vào chân tôi. Tôi ngã ngửa ra, còn kịp nhận thấy một con chó nữa lao như tên bắn vào bóng tối của những căn phòng.
- A - a - a! Tiếng Kvasmu gào nên bằng một giọng đáng sợ. Rồi ngay lúc đó những tiếng súng vang lên. Nghe có tiếng gầm gừ giận dữ rồi tiếng sủa ăng ẳng. Có cái gì rơi xuống, loạn xạ cả lên. Rồi những tiếng súng. Và im bặt.
Đầu óc quay cuồng, tôi đứng lên và bỏ chạy. Tôi chẳng còn quan tâm gì đến những việc xảy ra trong toà nhà điên rồ này nữa: chỉ còn chạy, chạy thật nhanh khỏi nơi này. Nhưng vừa ra khỏi cửa và xuống khỏi mấy bậc tam cấp, chân tôi đã quỵ xuống, tôi ngã xoài ra bãi cỏ và ngất đi. Một lúc sau tỉnh lại, tôi cảm thấy trong người bắt đầu nóng bừng bừng. Dường như có cơn chuột rút làm co quắp cả người lại, làm lộn lạo cả ruột gan lên.
Tôi hiểu đó là triệu chứng gì ...
Ánh mặt trời chói chang xuyên qua đám lá rọi thẳng vào mắt tôi. Tôi nằm dịch ra chỗ khác và lại duỗi thẳng người ra. Tôi tự cho phép mình nghỉ ngơi chút ít. Một giờ nữa tôi sẽ lại trở vào toà nhà đó.
Con chó Raul đang bình phục trở lại. Nó nằm ngay cạnh tôi, thè lè cái lưỡi đỏ và thở luôn luôn. Kennet Kvasmu đã kịp bắn con chó đen này- chính là Raul - ba phát nhưng nó vẫn kịp cắn đứt cổ họng lão giáo sư ác quỷ ấy.
Chăm sóc Raul có con chó nhỏ Andre với con bécgiê xám cao lớn. Con bécgiê rất khéo léo, biết mở tủ lạnh và các hộp đựng thực phẩm giỏi hơn cả bọn.
Xác lão Kvasmu thì con Andre đã kéo ra khỏi nhà và quẳng ra phía thung lũng đằng sau khu vườn sinh thái, nơi chỉ có loài chim rỉa xác mới cả gan đôi khi nhòm ngó tới. Còn trong chúng tôi chẳng ai thèm đặt chân đến đó nữa.
Riêng tôi thì đang phải trải qua quá trình "thích nghi", ngày nào cũng tự ngắm mình và lo lắng vô cùng khi thấy trong tôi có cái gì đó đang thay đổi rất ghê. Suốt ngày tôi đào bới trong đống giấy tờ của Kvasmu , cố gắng tìm hiểu những chai lọ đựng đầy các chất lỏng gì đó của lão ta để tìm chất giải độc. Vì rõ ràng bản thân lão không bị lây virus của lão chế ra.
Tôi rất vội. Sự "thích nghi" đang đuổi theo tôi, hằng giờ, hằng ngày, hằng đêm nó đang biến tôi thành một con vật gì đó. Đôi khi tôi cũng thấy thú vị tự hỏi: không hiểu mình sẽ biến thành con gì nhỉ?
Thời gian cuối tôi thường cảm thấy trong lòng có một nỗi lo lắng kỳ lạ nào đó: tôi có cảm giác rằng đó là tình cảm thân thuộc đối với mọi sự vật xung quanh tôi, là lòng tin và hy vọng rằng mọi việc sẽ kết thúc tốt đẹp.
Chúng tôi theo dõi một cách nghiêm ngặt để cho không một ai vào được khu vườn sinh thái này. Chỉ cần vài ngài cảnh sát ghé qua, vài nhà báo tạt vào, thế là họ sẽ làm lẫn lộn, làm vỡ mất những chiếc lọ thuỷ tinh kia. Và thế là vĩnh biệt mọi hy vọng của chúng tôi. Ai người ta chú ý đến lũ chó kia chứ? Và cũng có thể xảy ra trường hợp tệ hơn nữa: biết đâu Kvasmu lại chẳng dự trữ những loại virus có thể gây dịch bệnh hàng loạt thì sao?
Tôi vươn vai và ngồi dậy.
- Phải đi thôi - Tôi nói với Raul. Giọng của tôi thật lạ, hình như có pha lẫn cả tiếng gừ và tiếng sủa nữa thì phải. - Bây giờ thì tớ không được phép để cho mình bị cảm lạnh đâu.
Raul thở dài và lấy cái mũi lành lạnh dụi vào người tôi như bảo:
- Đứng lên nào! ...
Trần Thị Thu Hiên (Trần Thu) dịch từ tiếng Nga
-----------------------------------------------------------------------------------------
Đã đăng trong tập truyện “Bí mật chiếc bình xanh”do Báo Khoa học và Đời sống phối hợp với Ủy ban KH&KT Vĩnh Phú xuất bản, Hà Nội,1987.

27 thg 12, 2007

Đấng cứu thế (kỳ 8)

Tiếng nhạc ngừng hẳn.
Bên ngoài có tiếng chó sủa khe khẽ.
Giáo sư đứng dậy và đi về phía cửa sổ.
- George đấy phải không?
Lại nghe có tiếng sủa bên ngoài.
- Đi đi, đi đi. Ringer sẽ cho cậu ăn. Tôi đang bận.
Tiếng sủa ăng ẳng lần này nghe có vẻ trầm hơn.
- Không, - Kvasmu cao giọng, - Không cần. Đi đi! Giáo sư rời khỏi cửa sổ, cái bóng ông ta lù lù tiến lại và ập xuống tôi.
Tôi căng thẳng hẳn lên theo bản năng. Cơn run bắt đầu hành hạ tôi.
- Nghe đây, nhà báo! - Ông ta nói - Tôi đã học được cách điều khiển các quá trình đột biến của virus . Tôi đã tiến được xa hơn thiên nhiên: ngoài những virus thông thường, nghĩa là những vrius mà cơ thể vẫn dùng cho các mục đích của nó, tôi đã tạo ra được những virus đặc biệt. Những virus này hoạt động không phụ thuộc vào việc cơ thể có muốn sử dụng chúng hay không. - Ông ta nhếch mép cười. Tôi nhận ra ông đang cười chỉ là nhờ hàm răng trắng hiện lên trong bóng tối. - Chỉ cần có hai tháng - Ông ta thầm thì, phả vào mặt tôi hơi thở nóng hổi - và người sẽ biến thành chó. Hoặc biến thành khỉ. Anh hiểu chứ? Tôi truyền cho một người nào đó virus của tôi, và thế là hai tháng sau tôi đã có một con chó tuyệt vời cực kỳ thông minh.
Tôi bước lùi lại phía sau, mắt trố ra.
- Chỉ có một điều đáng buồn là những vrius này không tự sinh sản được. Rất tiếc là tôi chưa đủ khả năng để gây ra một sự truyền nhiễm dây chuyền, nhưng đó chỉ là vấn đề kỹ thuật thôi.
Catset của tôi vừa chạy hết băng, tiếng máy chít chít khe khẽ báo hiệu cho tôi biết điều đó.
- Máy của anh chạy hết băng rồi đấy, nhà báo ạ- Kvasmu vừa nói vừa rời khỏi chỗ ghế bành của tôi.
Tôi thở ra thoải mái hơn và đưa tay cởi khuy áo cổ sơ mi cho bớt ngột ngạt. Sau đó tôi từ từ kéo máy ghi âm catset ra và thay cuộn băng khác vào.
- Chỉ còn một thời gian ngắn nữa, rồi người ta sẽ nói theo cách khác! Tất cả sẽ hiểu rằng quyền lực của bà mẹ thiên nhiên là vô hạn.
Tôi vẫn im lặng , trong óc thầm nhẩm tính xem có thể tin mấy phần vào lời của Kvasmu. Nếu như những gì ông ta vừa nói là đúng sự thật thì điều đó thật kinh khủng. Không lẽ thằng cha mày định làm nổ tung cả nền văn minh bằng con đường sinh học hay sao? Tôi thử hình dung điều gì xảy ra khi mà do một bệnh dịch đặc biệt tất cả mọi người đều mọc đầy lông. Và tất cả sẽ có đuôi. Thật kinh khủng!
- Còn bây giờ thì anh hay nói thật xem anh nghĩ gì về tất cả những điều này hở nhà báo? Chỉ có điều đừng có đạo đức giả. Chẳng đem lại ích lợi gì đâu.
- Đó là hoang tưởng, thưa giáo sư - Tôi nói mà không nhận ra giọng mình. Trong giọng tôi như chất đầy nội lực và sức ép, tưởng như trong tôi hàng trăm thế hệ đấu tranh cho tương lai của mình đang lên tiếng. - Tôi thật ngạc nhiên khi nghe ngài nói những điều như thế.
- "Như thế" là thế nào? - Kvasmu nhại lại tôi - Đáng sợ khi nghĩ rằng "ôi - tự - nhiên - mọi - người - sẽ - chết - hết - ôi - nền - văn - minh - sẽ - bị - đập - tan" phải không? Thế thì đã sao nào? - Ông ta nói thêm bằng giọng gay gắt và đòi hỏi. Giáo sư lại bước về phía cửa sổ và lần này bóng ông ta in đậm trên nền trời còn sáng nhờ nhờ.
- Nền văn minh của chúng ta chẳng có ích lợi gì cả.Và cũng như mọi thứ vô tích sự khác, nó phải bị tiêu diệt. Đúng thế, phải bị tiêu diệt! Còn tôi thì lại đưa ra cơ hội để sống còn. Không thể tiến hành chiến tranh hạt nhân mà không có binh lính, mà chó lại không phải là lính. Ha - ha! Mà cũng có thể tôi sẽ biến ai đó không phải thành chó! Bởi vì những con chó của tôi chỉ mới là bước đầu tiên trên con đường cứu vớt sinh quyển của Trái Đất mà thôi. Tôi tin rằng tôi sẽ có thể biến bất kỳ sinh vật nào thành bất kỳ một sinh vật khác. Anh có hình dung được không, như vậy sẽ không còn những loài hiếm bị biến mất nữa. Một liều virus , hai tháng ủ bệnh, và thế là ta sẽ có một con hươu Bukhara hoặc một con ngựa Prjevalski. Đúng thế không nào? Thật là một triển vọng đầy hấp dẫn phải không? - Kvasmu dường như bắt đầu lảm nhảm và ngày càng nói to hơn. Tiếng nói của ông ta làm rung cả không khí và vang xa ra xung quanh bởi ông ta đứng ngay nơi cửa sổ đang mở toang.
- Một trạng thái cân bằng sinh thái hoàn hảo! Sẽ có những mối quan hệ lí trí, mang tính người thật sự giữa tất cả các nhóm và các loài động vật. Còn thực vật! Tôi sẽ biến tất cả những thằng ngu thành cây cối hết để chúng khỏi quấy rầy cuộc sống của người khác. Tôi hình dung thật rõ là chúng sẽ trở thành những thân cây sần sùi và có lá ra sao!
- Ngài Kennet Kvasmu ! - Tôi phẫn nộ, gần như bị nổi cơn điên. - Nhưng điều đó sẽ kéo theo hàng loạt cái chết! Đó sẽ là sự sụp đổ của tất cả những gì tích tụ được sau hàng bao thế kỷ phát triển và tiến bộ!
- Vứt mẹ nó cái phát triển và tiến bộ ấy đi. Chúng đã chẳng suýt đẩy chúng ta xuống vực thẳm hạt nhân đó sao. Nhiều người chết ư? Thế thì sao cơ chứ? Thế không phải hàng tỉ động vật cổ đại đã bị chết do những mong muốn nhất thời và vô nghĩa của con người hay sao? Tôi sẽ không đưa ra ví dụ cho anh, bởi chẳng cần đến tôi thì anh cũng phải biết đến hàng trăm ví dụ rồi. Hãy chỉ để còn lại một phần mười tất cả những gì chúng ta có ngày nay thôi thì chừng ấy cũng đã quá đủ rồi.
- Quá đủ cho cái gì? - Quá sợ hãi, tôi quắp chặt lấy tay tựa ghế bành như người chết. Bỗng nhiên tôi nhận thức được rằng Kvasmu không đùa.
- Đủ để xây dựng một thế giới mới, một thế giới trong sạch hơn và trung thực hơn. Khi đã hòa nhập vào thế giới động vật và thực vật, cuối cùng rồi con người sẽ phải nhìn lại mối quan hệ của mình đối với cuộc sống và với môi trường xung quanh. Có thể là họ sẽ thôi không muốn làm ai chết nữa, trong đó có cả bản thân mình. Thế giới cần phải có một sự rung chuyển mạnh mẽ. Tôi đề nghị phải dành cho cái nền văn minh đã bị kim loại hoá, kền hoá này sự sinh học hoá tới hạn và tin chắc rằng việc đó sẽ đem lại lợi ích của mình.
- Như thế thì nền văn minh sẽ bị tiêu diệt mất. Dứt khoát sẽ bị tiêu diệt vì không một loài động vật nào lại có khả năng tạo ra một nền văn hoá cả.
- Nếu một nền văn hoá như hiện nay thì đúng là không tạo được. Nhưng tôi nói về một thế giới khác, một thế giới sẽ phải xuất hiện trên đống tro tàn của thế giới cũ. Và tiếp nữa, ai bảo với anh là tôi định biến tất cả mọi người thành động vật cơ chứ? Không! Sẽ còn lại những người cùng tư tưởng như tôi, nhóm người đó sẽ có khả năng kiểm soát quá trình xây dựng lại toàn bộ hệ sinh thái trên hành tinh này!
- Thế là rõ! Các ngài da trắng đầy quyền hành! Chắc các ngài cũng sẽ để lại cho mình súng đại bác chứ ạ?
Kvasmu rời cửa sổ và kéo dép lệt sệt về phía cửa ra vào.
- Tôi thấy - ông ta cất giọng khó chịu - rằng anh có những chính kiến ngược với tôi. Thật đáng tiếc!
Tôi như bị diện giật. Tôi bỗng nhận ra rằng mình đang lâm vào thế nguy hiểm chết người, rằng cứ theo nguyện vọng của cái lão già diên rồ này thì hai tháng nữa tôi sẽ biến thành một con chó chính cống mất thôi. Tôi đã hiểu vì sao lão giáo sư lại kiểm tra giấy tờ và lục lọi túi xách của tôi. Đu - úng! Lão ta sợ cái gì đó và hẳn là đang chờ khách từ một cơ quan khác đến. Nhưng may cho lão là còn chưa ai nghi ngờ gì cả. Tôi cũng hiểu ra vì sao lũ chó ở đây lại thông minh đến như vậy và vì sao các cụ già địa phương lại gọi nơi này là khu vườn của quỷ dữ.
- Ngài Kvasmu , - tôi kêu lên, giọng khàn khàn, - thế những con chó của ngài ...
(Còn nữa)

23 thg 12, 2007

Đấng cứu thế (kỳ 7)

- Sao lại lồ lộ ra đấy? - Ông ta nói rất dịu dàng - Anh cho là tôi không thông minh. Nhưng tôi lại là một thiên tài cơ!
Tôi sững, mồm há hốc ra. Tôi không phải là người đầu tiên từng gặp những bác học kiêu căng, tự tin vào sự ngoại lệ đặc biệt của cá nhân mình. Nhưng thiên tài - từ đó quá thiêng liêng! Một con người không nên tự phong cho mình tước hiệu ấy ...
- Hình như anh thấy ngạc nhiên phải không?
Tôi im lặng
- Chớ ngạc nhiên làm gì. Tôi thiên tài thật đấy. Nói một cách nghiêm túc và đúng sự thật!
“Có thể ông ta không tỉnh táo lắm - tôi nghĩ - và có lẽ vì thế mới xảy chuyện giấy tờ và túi xách của mình như vừa rồi. Ừ mà sao mình không nhận thấy ngay nhỉ! Có thể người ta nhốt ông ấy một mình ở trong ngôi nhà có cửa sổ bằng lưới sắt này, và ở bệnh xá gần đây nhất một chiếc xe cấp cứu với những người hộ lý lực lưỡng đang lao tới đây chăng?"
Kvasmu nhìn tôi đợi câu trả lời.
- Anh không nói gì à?
- Tôi nghĩ ... - Tôi nói, cố kéo dài thời gian và tập trung tư tưởng.
- Nghĩ gì?
- Vâng, liệu một người đơn độc, thậm chí ta cứ cho rằng người đó có những khả năng thiên tài, có thể thực hiện được một phát minh như vậy không?
- Nhưng tôi đâu có đơn độc - Kvasmu bỗng cất giọng lỗ mãng, gần như có vẻ lấc cấc nữa.
- À vâng, ông đã ở Trung tâm "Đấng cứu thế" mười năm rồi cơ mà.
- Đúng thế. Mà trước đó tôi đã từng là một trong những nhà nghiên cứu chính của Viện... Nói chung của viện nào thì cũng chẳng can gì. Thiên tài không phải ở chỗ ấy, nó ở chỗ khác kia.
- Như vậy là ông tiến hành phát minh khi cùng làm việc với một tập thể lớn, lợi dụng lao động của hàng chục, nếu như không nói hàng trăm người, rồi bỏ đến đây, trồng nên cái vườn sinh thái này và làm cho mình nổi danh sao?
- Bậy nào. Tôi thèm vào làm cái đó!
- Nhưng thế thì tại sao ...
- Bởi vì - ông ta gay gắt ngắt lời tôi - điều thiên tài nhất vẫn còn nằm ở phía trước. Sự thiên tài này không phải ở chỗ phát minh ra mà là ở chỗ sử dụng cơ - ông ta nhấn mạnh.
- Khoan đã, tôi không hiểu gì nữa rồi. Chúng ta hãy nói nốt về vườn sinh thái đi đã. Ngài đã nghĩ ra được điều gì ở đây ạ?
- Lúc chiều, trước bữa ăn tối không chuẩn bị trước của chúng ta anh đã nhận thấy - Kvasmu nói bằng giọng mỉa mai thế nào ấy - rằng có thể virus cũng chịu đột biến. Vậy là anh nói đúng đấy. Bây giờ anh hãy nghe nhé. Cho đến thời gian gần đây người ta vẫn cho rằng đột biến ở virus là hiện tượng ngẫu nhiên. Nhưng tôi lại chứng minh được rằng những đột biến đó mang tính quy luật và chúng cũng tuân theo những quy luật vẫn xác định quá trình tiến hoá trên toàn hành tinh này. Anh nắm được ý tôi chứ? Thế thì ta tiếp tục nhé! Từ đó suy ra rằng bản thân quá trình tiến hoá trên hành tinh chúng ta luôn luôn phải chịu ơn virus . Đúng thế, chịu ơn chính những sinh vật tí xíu sống cộng sinh ấy. Chính nhờ có chúng mà mọi động vật trên hành tinh này đã mọc chân tay thay cho vây để thích nghi với điều kiện sống mới trên cạn, chính chúng đã giúp cho sự xuất hiện loài bò sát, rồi sau đó lại tiêu diệt bò sát dành chỗ sống cho loài có vú. Chính chúng đã làm thay đổi mọi đặc điểm bên trong cũng như bên ngoài của sinh vật sống cho đến khi sinh vật đó đạt tới cái trạng thái mà chúng ta dã quen gọi là "có lý trí" hay "có ý thức tự giác".
Tôi ngồi im, và trước mắt tôi như dần dần hiện lên cuốn phim hoạt hoạ, trong đó những sinh vật bé xíu đang từ từ điều khiển số phận của hàng loạt thế hệ các sinh vật khổng lồ trên Trái Đất.
Bên ngoài trời đã tối dần.
- Còn với khu vườn sinh thái này thì mọi việc rất đơn giản. Khi cây cối cảm thấy rằng trong những điều kiện này chúng sẽ chết và đã chuẩn bị để sang thế giới bên kia thì tôi tống virus vào, những virus này có khả năng cấu trúc lại một số cơ quan của cây bằng một cách đặc biệt để cho cây có thể sống được. Và như vậy là cây cối đã sử dụng các virus đó - ông ta kết thúc bằng giọng mệt mỏi - Nào, ta xem ti vi chứ?
Tôi cắn môi, sắp xếp lại trong óc mọi điều vừa nghe được và cố gắng nghe xem ghi âm còn làm việc nữa không. Những cuộc nói chuyện kiểu này rõ ràng chỉ có một không hai.
Kvasmu lại ngồi vào chiếc ghế bành đặt chếch về phía trước tôi một chút. Ông ta vô tình cố tạo ra một khoảng cách giữa ông ta và tôi. Chiếc TV bật sáng mà câm lặng.
- Nếu như sự yên tĩnh làm cho anh khó chịu thì tôi vặn nhạc lên nhé.
Giáo sự đứng dậy đi về phía trước. Sau đó ông ta quay trở lại, ngồi vào ghế bành và tiếng nhạc vang lên.
- Đó là Bách đấy - Kvasmu nói bằng một giọng mới, có vẻ suy tư. - Anh biết tên tuổi nhạc sĩ này chứ? (Johann Sebastian Bach (1685 – 1750)- thiên tài âm nhạc người Đức- chú thích của người dịch)
- Dạ có ạ.
- Cũng là một chuyện thú vị : Bách tin tưởng rằng ông ta có một sứ mạng nhất định và ông cần phải thực hiện sứ mạng đó.
- Sứ mạng gì cơ ạ?- Tôi tò mò gợi chuyện.
- Ông ta cho rằng ông ta đến Trái Đất để dùng ngôn ngữ âm nhạc kể cho mọi người về Thiên nhiên mà trong đó họ đang sống, về những mối quan hệ phức tạp và tinh tế của nó, về sự cộng hưởng và sự hài hòa nói chung. Chính vì vậy mà cho đến tận thời chúng ta âm nhạc phức điệu của ông ta vẫn còn là một câu đố. Nhưng ông ta cũng làm được khá nhiều: tự bắt mình không được nghỉ ngơi, ông ta đã làm việc cho đến tận những ngày cuối đời và chết vào lúc 65 tuổi.
- Vậy ư?
- Sinh thời ông ta chỉ được vẻ vang bởi nghệ thuật biểu diễn thôi. Còn các tác phẩm của ông ấy thì bị coi là quá khó hiểu và mang tính toán học. Thời gian đã đặt mọi cái vào đúng vị trí của chúng.
Những âm thanh nghiêm nghị lúc đầu ngừng hẳn, và khúc nhạc chậm rãi ban đầu bị bật tung bởi những nhạc điệu hối hả, chồng chéo lên nhau một cách khó hiểu.
"Kvasmu nói đúng - tôi nghĩ - Bách hoàn toàn thích hợp với lối tư duy hiện đại".
- Nhưng dù sao thì - tôi bắt đầu trận tấn công mới - khi nói về tính thiên tài, chắc hẳn ngài muốn đề cập tới cái gì khác chứ không chỉ đơn giản là sự thích nghi của thực vật, cho dù sự thích nghi đó thật quá đỗi kinh ngạc, phải không ạ?
- Tất nhiên - Giáo sư chậm rãi trả lời - thiên tài là ở chỗ tôi sẽ phải biến đổi thế giới của chúng ta. Và tôi đã bắt đầu thực hiện sứ mệnh vĩ đại đó!
Ông ta nói trịnh trọng một cách khác thường khiến tôi nhớ đến bệnh cuồng dại. Trong ngài giáo sư lạ lùng này tập hợp tất cả mọi thứ, cả rồi loạn tâm thần, điều đó thì chắc chắn rồi, cả thiên tài lớn, cả ý chí bên trong - tất cả quyện vào nhau thành một búi lạ kỳ, và tôi tò mò ngắm mặt ông ta, khuôn mặt mà từ chỗ tôi ngồi chỉ trông rõ được tí chút nhờ ánh sáng ít ỏi của màn ảnh tivi.
- Khu vườn sinh thái của tôi chỉ mới là sự mở đầu khiêm tốn mà thôi - Kvasmu nói tiếp, vẻ phấn chấn hẳn lên - Còn bản thân ý tưởng của tôi sâu sắc hơn nhiều. Tôi có thể nói là mang tính chất toàn cầu hơn nhiều. Không phải ngẫu nhiên mà tôi lại đặt lên khu vườn cấm của mình là "Đấng cứu thế". Trước kia, đã lâu lắm rồi, khi còn trẻ trung như anh, anh bạn trẻ ạ, tôi đã từng nghĩ là mọi sinh vật sống trên hành tinh chỉ có thể tồn tại được khi nào chúng học được cách thích nghi với con người. Nhưng sau đó tôi hiểu rằng tôi đã nhầm như thế nào về con người. Con người - đó tạm thời là trung tâm của điều ác. Ít nhất thì ngày nay nó cũng là như vậy. Nó chẳng làm được cái gì cả và chỉ có khả năng phá hoại bằng cách đè bẹp tất cả để thích nghi với tình hình.
- Khoan đã - Tôi không nhịn được nữa - Nhưng chẳng phải con người chính là nhà sáng tạo vĩ đại nhất hay sao.
- Nhà sáng tạo vĩ đại nhất là Thiên nhiên - Kvasmu gay gắt nói - chứ không phải con người. Con người sáng tạo được cái gì nào? Đối với các đàn kiến của mình con người làm đảo lộn hết cả - đốt rừng, đốt than, đốt dầu mỏ. Phát minh vĩ đại nhất của con người là sử dụng năng lượng hạt nhân. Thế mà con người đã làm gì cho việc đó? Phá vỡ ! Thậm chí ở đây cũng lại phá hoại! Vâng, đã qua rồi cái thời mà Con người có thể sống hoà thuận với Thiên nhiên, khi mà đối với con người chỉ ánh nắng và gió cũng đã đủ rồi. Không! Bây giờ thì phải để cho anh ta đốt cháy, gây ra các vụ nổ, phá huỷ toàn thế giới chỉ để mưu lợi trong một phút cơ! Còn tiếp đó - hãy bùng lên ngọn lửa xanh!
Kvasmu hoàn toàn bị kích động, hơi quay về phía tôi và một tay vung vẩy trong khi nói.
Chắc là ông ta đã nói ra những gì thầm kín nhất và trước mắt tôi hiện rõ nguyên hình con người thật của ông ta - cởi mở và dữ dội.
- Còn nếu tính thù địch đạt đến tột cùng ý thức nhu nhược của nó - Giáo sư bỗng sôi nổi lên - thì khi đó con người sẽ biến hành tinh này thành một ngọn đuốc tuyệt diệu. Vậy tại sao những sinh vật còn lại lại phải chết? Ít nhất thì cũng là những côn trùng mà chỉ riêng một loài thôi cũng đã nhiều hơn số sao trên bầu trời kia?
Kvasmu quay về tư thế cũ và im bặt.
Tôi cũng chẳng nói lời nào.
Chương trình truyền hình kết thúc, trên màn ảnh chỉ còn phim hoạt hoạ. Bóng tối cuối cùng đã trùm lên căn phòng và lập lờ dưới trần nhà. Bản nhạc khe khẽ vang lên như muốn làm dịu, âu yếm thính giác người nghe.
Người tôi như có kiến bò. Thậm chí dù ở trạng thái cuồng loạn Kvasmu cũng vẫn làm cho tôi lâm vào tình trạng phải tiếp thu những vấn đề lớn không còn với thái độ mỉa mai nữa.
(Còn nữa)
Người dịch: Trần Thị Thu Hiên (Trần Thu)

21 thg 12, 2007

Đấng cứu thế (kỳ 6)

- Các anh viết những gì?- Kvasmu khẽ hỏi
- Tôi ấy ạ?
- Không, không phải anh. Tạp chí cơ.
- Viết về đủ mọi thứ. Trong đó có cả về sinh thái học, về bảo vệ môi trường. Ngài chưa đọc bao giờ ạ?
- Chưa - Không hiểu sao ông ta bỗng ngẩng nhìn tôi và ánh mắt cứng rắn của ông ta cứ xoáy vào mặt tôi. - Tôi chẳng có lúc nào mà đọc cả. Như vậy là - ông ta cắn môi - cả về bảo vệ môi trưòng?
- Vâng.
- Anh hãy nói cho tôi biết anh đánh giá như thế nào về tình trạng bảo vệ môi trường hiện nay?
- Theo tôi - tôi nói - nếu muốn cũng có thể làm việc gì đó để bảo vệ ...
- Đừng vòng vo thế! Cứ nói thẳng đi! Nói thẳng hơn và mạnh dạn hơn xem nào!
Tôi hơi ngập ngừng.
- Thiên nhiên hoang đã cần được tập trung vào các khu vườn cấm và các vườn bách thú.
- Chớ động tới vườn bách thú, đó đâu phải là thiên nhiên! - Giáo sư nóng nảy quát lên. - Thế còn sau đó, sau đó phải làm gì nữa?!
- Thiên nhiên, theo tôi, đây chỉ là quan điểm của riêng tôi, cần được thay đổi về chiều sâu ...
- Nào! Nào!
- Cần được có nhân tính ...
- Mạnh dạn lên nào! - Trong giọng nói Kvasmu lộ rõ vẻ đồng tình.
- Sẽ chỉ còn lại những loài nào có lợi cho chúng ta hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp, hoặc những loài có khả năng thích nghi.
- Tuyệt - Giáo sư thốt lên và dè dặt mỉm cười - Và ta tiếp tục nhé: thế những điều ấy liệu khi nào mới có thể xảy ra?
- Theo tôi, - tôi hồ hởi nói tiếp - cũng phải còn vài ba thế kỷ nữa. Tôi không đồng ý…
- Thế đấy! - ông ta ngắt lời tôi - Nhầm to rồi. Rất nhầm! Không đâu anh bạn trẻ ạ, nếu như anh muốn biết thiên nhiên còn phải trong tình trạng hoang dã, nghĩa là trong tình trạng hiện tại bao lâu nữa thì tôi có thể nói cho anh một cách khá rõ đấy. - Ông ta ngừng nói và nhìn tôi dò hỏi, tưởng như đợi tôi trả lời vậy.
- Bao lâu nữa ạ? - Tôi hỏi với giọng cam chịu.
- Tối đa là năm mươi năm.
Tôi ngạc nhiên mở to mắt và cười thầm - rõ ràng bố già hơi quá lời rồi.
- Thế tối thiểu thì sao ạ?
- Điều này thì tuỳ anh thôi! - Cơvaxmu trả lời tôi một cách xỏ xiên - Là thế nào cũng được cả. Miễn là người ta cho phép bấm nút.
- Nút nào vậy?
- Thì tôi cũng chả biết nút nào nữa. Nút đỏ, mà cũng có thể là nút đen. Một cái nút mang tính người hoàn toàn. Ấn một cái - thế là mọi sự đều sẵn sàng! Đấy, thiên nhiên dành cho anh đấy ... - Ông ta bỗng thoáng buồn và lại cụp mắt xuống.
"Ông già lẩm cẩm mất rồi - tôi chợt nghĩ - ông ta tin chắc là chiến tranh hạt nhân sẽ xảy ra".
- Chắc anh cho tôi là một kẻ kỳ lạ quá mức? - Kvasmu hỏi, giọng ngọt xớt - Nhưng từ đây, từ chốn thâm sơn cùng cốc này không hiểu sao tôi nhìn thấy mọi việc rõ ràng hơn.
Tôi gật đầu thông cảm.
- Chỉ có một lối thoát thôi - Ông ta sôi nổi - Một lốt thoát duy nhất.
Nếu như trong tôi còn khả năng để ngạc nhiên thì chắc tôi rất quan tâm đến câu hỏi nói đó của giáo sư. Nhưng ngày hôm nay đã quá nhiều điều bí ẩn xảy ra rồi. Bây giờ thì tôi chỉ còn nghĩ đến chuyện thiết kế bài phóng sự cách nào cho đạt nhất mà thôi! Bỗng nhiên trí nhớ lại quay về với câu chuyện virus lúc nãy.
- Thưa giáo sư, - tôi lịch sự hỏi - thực tình tôi không hiểu lắm về việc virus có liên quan như thế nào đến mọi điều tôi được thấy trong khu vườn sinh thái này?
Giáo sư bước lên trước và dừng lại ở chỗ bức tường, lưng quay về phía tôi. Đây không phải lần đầu tiên mỗi khi bắt đầu câu chuyện là ông ta lại bước lên trước và quay lưng laị, có lẽ đó là một thói quen của ông.
- Chúng ta hãy để bệnh tật sang một bên - ông ta mệt mỏi nói - và chỉ nói đến persistansia của virus thôi.
- Gì cơ ạ?
- Persitansia là chứng cớ của việc virus có tồn tại lâu trong cơ thể. Người ta đã chứng minh được rằng sự có mặt của virus loại này hay loại khác trong cơ thể bao giờ cũng gây nên tính miễn dịch đối với một bệnh cụ thể. Nhưng cái đó không chính xác lắm, virus không thể gây bệnh được, đúng hơn thì sự mắc bệnh do virus gây ra không phải là bệnh mà nếu có thể được thì ta gọi đó chính là sự thích nghi với các điều kiện đã thay đổi của môi trường bên ngoài. Do bản chất của mình, virus là những "thợ điều chỉnh" của cơ thể. Liên kết với bộ máy di truyền của tế bào, gen của virus đóng vai trò một ngân hàng thông tin di truyền đặc biệt đối với tất cả các hệ thống sinh học. - Giáo sư ngừng nói và bàn tay mệt mỏi xoa xoa trên mặt. Ông ta lại bắt đầu đi lại trong phòng và lúc này đang đứng ngay trước mặt tôi.
Mặt trời đã hạ xuống ở ngay đường chân trời: những tia nắng không còn lọt vào phòng qua các khung cửa có lưới sắt nữa. Nhưng bên ngoài trời vẫn còn khá sáng sủa nên trong phòng tuy đã nhá nhem vẫn trông rõ mọi thứ. Nửa mặt của Kennet Kvasmu phía bên tôi bị bóng tối che nên má trông hóp lại và quầng mắt trũng sâu.
- Bây giờ nếu tôi nói với anh rằng tôi đã giúp cho tất cả thực vật ở đây thích nghi với điều kiện địa phương thì anh không ngạc nhiên lắm nữa chứ?
- Dùng virus ạ?
- Chính thế.
- Thưa giáo sư - tôi nhẹ nhàng nói: - Có thể tôi còn quá trẻ, nhưng tôi được biết rằng thời đại của chúng ta không còn là thời đại của những nhà phát minh đơn độc nữa. Không lẽ phát minh của ngài lồ lộ ra đấy mà lại bị hàng ngàn nhà phát minh khác bỏ qua sao?
Kvasmu quay về phía tôi, ánh mắt bỗng loé lên vẻ man rợ nhưng mặt vẫn khuất trong bóng tối nên tôi không hiểu được vẻ mặt ông ta ra sao.
(Còn nữa)

19 thg 12, 2007

Đấng cứu thế (Kỳ 5)

ĐẤNG CỨU THẾ (Kỳ 5)
- Không bao giờ! Virus không phải là vật thể và không là vật thể gây bệnh. Những bệnh đáng sợ nhất do virus gây ra là bệnh viêm tuỷ xám và viêm não, mà những bệnh này lại chỉ đánh bại những người tàn tật thôi, chứ trong số một trăm ngàn người chúng chẳng làm chết nổi một người. Đó là nói về xác suất. Cho nên có thể mạnh dạn coi tất cả các bệnh do virus là thuộc loại rối loạn hệ thống miễn dịch. Virus - đó không phải là phần tử lạ đối với cơ thể sống. Chúng là một bộ phận hữu cơ và cần thiết của môi trường sống mà thiếu chúng không thể có sự thích nghi, không có hệ thống miễn dịch và nói chung không thể có sự tiến hoá.
- Tiến hoá ư?
- Đúng, nhưng ta sẽ nói về điều này sau. Còn bây giờ anh chỉ cần hiểu rằng trong thiên nhiên, virus là sự đa dạng của các mã sinh học, có thể được bất kỳ cơ thể nào sử dụng toàn bộ hay từng phần trong bất kỳ mối liên kết nào, nhằm bất kỳ mục đích gì.
- Tóm lại, - tôi hơi nhổm người lên ngắt lời giáo sư - có thể gọi virus là thông tin phụ nằm rải rác trong môi trường phải không ạ?
- Đúng thế, là thông tin có thể được bất kỳ cơ thể sống nào sử dụng không có ngoại lệ nào.
- Nhưng như vậy sẽ nảy ra vấn đề: những virus ấy từ đâu ra?
- Từ đâu ra là thế nào? - Kvasmu ngẩn người ra - Chúng ta tự nuôi chúng chứ còn đâu ra nữa. Anh phải hiểu rằng bất kỳ virus nào cũng có khả năng biến đổi một tế bào làm cho tế bào đó sẽ sản xuất ra được hàng nghìn virus tương tự, giống như một nhà máy sống vậy.
- Vâng, nhưng từ đầu thì thế nào ạ? Virus có nhiều loại khác nhau, có nghĩa là chúng cũng dễ bị đột biến chứ ạ?
Giáo sư vẫn đi lại lại trong phòng và lúc này đang ở ngay sau lưng tôi.
- Chàng trai này, - ông ta nói bằng giọng nhẹ nhàng hơn lúc nãy - liệu anh có đói không đấy?
Trong ngữ điệu câu hỏi của ông ta có thể thấy sự cảm thông và thân thiện nhưng đối với tôi, một người đang cảnh giác, thì nó vẫn có vẻ đáng ngờ thế nào ấy.
- Nói chung thì tôi chưa ăn sáng...
- Thế đấy, mà bây giờ thì đã đến giờ ăn tối rồi. Chúng ta đi ăn chút gì đã nhé.
Tôi thấy thật lạ lùng cái cách ông ta chuyển sang đề tài khác ngay khi câu chuyện đang hồi sôi nổi nhất; nhưng đành phải tuân theo ý muốn của giáo sư thôi. Có thể đây sẽ là cơ hội làm cho mình có được chút cảm tình gì với ông ta.
- Mọi thứ của tôi ở đây đều theo kiểu của người sống độc thân- Kvasmu vừa cười vừa bảo tôi - Chỉ có nước quả và bánh xanuých thôi. Nếu anh muốn ăn canh thì xin anh cứ tự nấu lấy. Tôi có khối gói xúp khô đấy!
- Tôi đã quen rồi ạ.
- Thế thì đi nào! - Giáo sư bước ra khỏi phòng trước và lúc này tôi nhận thấy ông ta kéo dép ít lệt sệt hơn hẳn lúc trước. Không lẽ cuộc nói chuyện vừa rồi đã làm tăng trương lực của ông ta? Tất nhiên rồi! Chả có nhà bác học nào lại không bị kích động khi đề tài cuộc tranh luận lại chính là điều mà ông đã dành cả những năm tháng tốt đẹp nhất cho nó, nếu không nói là dành cả cuộc đời.
Rất lạ là những điều ông ta nói về virus lại không làm tôi ngạc nhiên mấy. Ừ thì virus vẫn là virus . Trong công việc của mình tôi thường xuyên phải tiếp xúc với những ý tưởng kỳ quát nhất và những người kỳ quặc nhất cho nên khả năng ngạc nhiên cứ giảm dần đi.
Qua một cửa lớn chúng tôi bước vào phòng ăn, mặc dù tên gọi ấy không mô tả được đúng lắm căn phòng này. Ở đây ngoài dụng cụ nhà bếp như tủ lạnh và bếp điện còn có một bàn thí nghiệm hoá học với những cái giá đỡ ba chân, những cái đế cắm các ống nghiệm, các bình to nhỏ và nhiều lọ thuỷ tinh. Khắp nơi đều thấy thức ăn thừa.
Kvasmu mở cánh tủ lạnh màu trắng tuyết một cách thành thạo và lôi ra một khúc giò cùng một mẩu pho mát. Ông ta đặt những thứ đó lên bàn và lấy thêm hai chai nước "Pepsi" để cạnh. Ông thò tay vào tủ con và lôi ra một số miếng bánh mì trắng, vỗ vỗ vào đó và lắc đầu- có lẽ bánh mì đã cứng quá mất rồi.
- Không sao, - ông ta nói, dường như có ý thanh minh - bây giờ chúng ta sẽ chuẩn bị bữa tiệc.
Giáo sư vẩy nước vào các mẩu bánh mì rồi đặt chúng vào lò sấy. Trong khi đó tôi cắt hết khúc giò và pho mát - tất cả đều không còn tươi nữa; pho mát cứng như đá làm lưỡi dao cứ trượt đi, còn giò thì đã khô lại và trở nên có màu xám nhưng mùi vẫn tốt và rõ ràng là còn ăn được. Bữa ăn không chuẩn bị trước này làm cho tôi có cảm tưởng rằng nếu người ta thực sự vẫn ăn ở đây và ăn như chúng tôi bây giờ thì không thể nói rằng ở Trung tâm "Đấng cứu thế" có điều kiện làm việc tốt được. Nói chung, đây cũng thể hiện lòng nhiệt tình khoa học của tuổi trẻ ...
- Thơm quá! - Giáo sư nói bằng giọng ngọt ngào - Mùi bánh mì nướng là một trong những phát minh lớn nhất của con người! - Ông ta hít ngửi ầm ĩ, cánh mũi rung rung, dường như quá trình ngửi của ông ta vẫn thường gắn liền với hoạt động của cơ mũi vậy. "Không - tôi nghĩ - chắc họ phải có nhà ăn và bếp tử tế hơn, còn ở đây chỉ là nơi lót dạ trong thời gian làm việc để khỏi phải đi xa thôi".
Kvasmu mở cả hai chai "Pepsi" một cách rất kịch và lôi những mẩu bánh mì đã nướng vàng ra. Tôi khéo léo đặt lên mỗi khoanh bánh mì một miếng giò và một miếng pho mát rồi chúng tôi mỗi người cầm lên một khoanh bánh còn nóng đến bỏng cả ngón tay, vừa nháy mắt mỉm cười thông cảm với nhau vừa thổi làn khói của bữa tiệc, cả hai chúng tôi bắt đầu ăn. Mỗi người được ba khoanh bánh. Không thể nói là đã no nhưng dù sao dạ dày cũng nằng nặng một chút và bụng đỡ sôi.
- Nói chung thì - Kvasmu lúng búng nói, miệng còn đầy ắp - chúng tôi vẫn ăn ở nhà ăn trong khu nhà ở kia. Còn đây chỉ là ... - Ông ta khoát tay một cách không rõ ràng.
Để trả lời tôi chỉ ậm ừ trong họng vì những mẩu bánh mì nóng trong mồm không cho phép mở miệng.
Khi chúng tôi ăn xong, giáo sư đẩy mạnh cái chai sang một bên rồi đứng dậy. Động tác đó cho tôi hiểu là giờ nghỉ ăn cơm đã hết và không nhất thiết phải rửa chén bát. Tôi cũng đứng lên theo ông ta.
Trong khi trở lại phòng lớn, Kvasmu hơi chau mày nhìn xuống phía dưới chân ông ta.
Cái đầu húi cua của ông để lộ làn da màu hồng, hai tay ông thọc sâu trong túi quần mầu đen. Cảm giác không tin tưởng và không tự chủ bỗng nhiên lại quay trở lại trong tôi và tôi bỗng rùng mình.
(Còn nữa)

18 thg 12, 2007

Đấng cứu thế (kỳ 4)

ĐẤNG CỨU THẾ (Kỳ 4)
Đi qua thêm hai dãy hành lang tối om với vô số cửa hai bên nữa, giáo sư rẽ sang phải và bước lên cầu thang. Lên đến tầng hai, ông ta dừng lại trước cánh cửa thứ ba và đẩy cửa ra.
- Anh hãy thu xếp ở đây! - Kvasmu nói và đưa tay chỉ căn phòng- Tạm thời tôi xuống dưới nhà một lúc. Sau khoảng hai mươi phút nữa khi xong việc, tôi có thể trả lời các câu hỏi của anh. Còn anh tự xuống lấy nhé.
- Tìm ngài ở đâu ạ?
- Ở phòng lớn, nơi chúng ta ngồi lúc đầu ấy. - Giáo sư nhìn thẳng vào mắt tôi. Trong cái nhìn ấy có cái gì đó vừa đòi hỏi vừa tò mò, cái gì đó khó chịu.
- Vâng, - tôi nói - có nghĩa là sau hai mươi phút nữa.
Trong phòng có một chiếc tủ đứng. Một chiếc giường đơn khá thấp, phía trước giường là chiếc tủ con, cạnh đó là bàn làm việc. Các cánh cửa sổ đều mở; gió nhè nhẹ làm màn che cửa sổ rung rinh.
Sau khi tin chắc là cửa ra vào đã đóng chặt, tôi ném chiếc túi xách lên bàn, mở khoá cặp và kiểm tra mọi thứ.
Đồ đạc vẫn nằm nguyên như cũ: quần áo lót, bên phải là máy ảnh và phim, rồi đến dao cạo râu, khăn mặt, bàn chải đánh răng v.v... Nhưng trong cái trật tự ấy của tôi có cái gì đó là lạ. Như vậy là Kvasmu đã lục lọi chiếc túi. Có thể hình dung việc xảy ra khá rõ ràng: ngài giáo sư sau khi bày trò đánh lừa tôi về thẻ nhà báo, trong khi tôi loay hoay tìm thẻ, đã mang túi xách của tôi lên gác và kiểm tra đồ đạc đựng trong đó. Rồi ông ta trở xuống bằng đường khác và sau khi tin chắc là tôi không còn trong hành lang đã đặt thẻ nhà báo lên giá sách. Một mặt tôi không thể gây sự với ông ta được - vì là do tôi không nhìn thấy tấm thẻ. Mặt khác tôi không nghĩ ra được là phải theo ông ta lên gác. Có thể nói đó là một giả thuyết có căn cứ. Nhưng còn một lẽ khác rõ ràng hơn và có vẻ hợp với sự thật hơn: Không hiểu sao ngài giáo sư lại đề phòng tôi, ăn nói lập lờ và dò xét tôi.
Tôi đặt máy ảnh và phim lên mặt tủ con. Ít nhất những thứ này cũng cần đến trong hôm nay: tấm ảnh của vị giáo sư ấm đầu này hẳn sẽ nổi bật trên trang bìa tạp chí "Những sự kiện quan trọng nhất" với nền ảnh là toàn bộ những điều kỳ lạ về thực vật và động vật.
Tôi liếc nhìn đồng hồ - còn vài phút nữa mới đến giờ hẹn - và nhìn qua cửa sổ. Ngay trước mặt tôi là vòm lá khổng lồ của cây tuyết tùng. Thoạt nhìn cây có vẻ đã già. Chỉ với thời gian ngắn từ khi có trạm "Đấng cứu thế" thì nó không thể lớn như thế được. Có nghĩa là từ trước khi Kvasmu và các cán bộ khoa học của ông ta đến, ở đây người ta cũng đã trồng những cây lạ hay sao? Hay là khi đưa về đây trồng thì nó đã là cây khá lớn rồi? Đã đến giờ hẹn!
Tôi giấu máy ghi âm vào túi ngực phía trong, đeo máy ảnh vào cổ và ra khỏi phòng.
Đói quá. Gần như suốt từ sáng sớm chẳng kịp ăn miếng gì cả. Trước hết vội đến chỗ Azanberto. Lúc lên đường lại ngại mở túi lấy bánh. Dọc đường đến trạm "Đấng cứu thế" và nhất là sau khi gặp bầy chó thì tôi chẳng còn thì giờ đâu mà ăn nữa. Liệu Kvasmu có mời mình món gì không nhỉ? Hay ông ta hoàn toàn xa lạ với lòng mến khách thông thường?
Ngài giáo sư vẫn ngồi trong chiếc ghế nọ. Trước mặt ông ta màn ảnh ti vi vẫn bật sáng mà không hề có tiếng nói. Mặc dù tôi bước vào phòng nhẹ như mèo, ông ta vẫn cảm biết tôi đã đến.
- Ngồi xuống đi, nhà báo! - ông ta nói không chút nhiệt tình nào.
- Tôi ngồi xuống, gần như sát cạnh ông ta, và đặt máy ảnh xuống chiếc ghế bên cạnh. Tôi không muốn mở đầu câu chuyện. Tôi rất muốn được nghe Kvasmu vào đề như thế nào.
- Chàng trai này, - ông ta cất tiếng - anh cho phép tôi gọi anh như vậy chứ, bởi tôi đáng tuổi bố anh cơ!
Rồi cũng chẳng đợi xem tôi có đồng ý không ông ta nói tiếp:
- Cho phép tôi được mời anh cùng xem tivi. Khi bạn sống trong cái chốn thâm sơn cùng cốc như thế này thì có thể nói tivi là sợi chỉ mong manh duy nhất nối liền bạn với nền văn minh đấy ...
Thật may là tôi vừa kịp bật máy ghi âm và hình như làm động tác đó khá kín đáo. Bây giờ thì tôi nhẩm tính một cách khổ sở là làm sao cho cái khuynh hướng xem tivi "câm" này của ông già sẽ gây ấn tượng thật mạnh trong bài phóng sự sắp tới.
Trên màn ảnh, hình ảnh một đám đông nhốn nháo. Không hiểu sao quần áo và mặt mũi họ đều một màu xám ngoét. Rồi đoàn người, xe cộ, những ngôi nhà khổng lồ…Không có âm thanh kèm theo, mọi hình ảnh trông đều vô nghĩa. Thỉnh thoảng người ta lại quay cận cảnh khuôn mặt một số người nào đó và cặp môi họ mấp máy, nhưng những cặp mắt lại trống rỗng và không sinh động, bởi vậy chẳng hiểu là họ đang nói gì. Chỉ thấy người, người và người.
- Thưa giáo sư, - tôi thận trọng hỏi - nhưng sao lại không có tiếng ạ?
- Tiếng làm hỏng tất cả, chàng trai ạ. Không có âm thanh kèm theo thì hình ảnh trên màn hình tivi là cả một bài ca. Một bài ca nguyên vẹn, tinh tế, sâu sắc. Âm thanh làm méo mó nhận thức đi, làm biến đổi sự chú ý của con người từ cái rõ ràng sang cái có thể hoặc cái mong muốn.
- Xin lỗi, - tôi đứng lên - nhưng không có âm thanh thì mọi thứ cứ như không có nghĩa lý gì.
- Chính thế đấy. - Kvasmu sinh động hẳn lên và quay về phía tôi. - Dù sao thì anh cũng vừa đúng lại vừa không đúng.
Lần đầu tiên khuôn mặt ông ta ở sát gần tôi đến thế, và ngay lập tức tôi đã mô tả được nét mặt nhà bác học, bởi tôi biết rằng cái cảm giác đầu tiên về một con người bao giờ cũng đúng và chính xác.
"Nét mặt của giáo sư Kennet Kvasmu cho thấy ông là một người có nguyên tắc cứng nhắc. Chỉ cần nhìn thấy những đường nét rõ ràng, những nếp nhăn trên vầng trán rộng, hai hàng lông mày thẳng và đôi môi mím chặt như gọng kìm là bạn có thể thấy ngay ở ông một con người có ý chí mạnh mẽ; Tất nhiên ý chí đó gắn bó chặt chẽ với một tài năng kiệt xuất và một tinh thần lao động bền bỉ. Tuy nhiên tóc hai bên thái dương bạc trắng cho thấy rằng con đường dẫn đến đích của giáo sư Kvasmu không phải được trải hoa hồng hay phủ đầy vòng nguyệt quế. Nhưng cặp mắt - cặp mắt màu xanh nhạt long sòng sọc - nói lên một cách rõ ràng nhất rằng tất cả còn nằm ở phía trước, mục đích đã được định sẵn và không có gì có thể cản trở con đường đạt tới mục đích đó! ..."
- Cái từ "vô nghĩa" ấy ở nền văn minh của chúng ta mang hai nghĩa - Giáo sư giải thích - Chẳng hạn đối với tôi tất cả những gì anh thấy trên màn ảnh từ lâu đã trở nên trống rỗng. Nhưng cái "vô nghĩa" của anh thì đó lại là khía cạnh ngược của ý nghĩa, đó là sự thiếu một thông tin nào đó. Trong trường hợp cụ thể này thì đó là thiếu âm thanh. Anh hiểu tôi chứ?
Lúc này Kvasmu dịu giọng hơn khi nãy và tôi lấy làm ngạc nhiên sao ông ta lại có thể có nhiều sắc thái giọng nói như vậy. Thậm chí tôi còn ngờ rằng liệu trước kia ông ta có là ca sĩ hay là một nhà tuyên truyền chuyên nghiệp không?
- Tôi hiểu ạ - tôi gật đầu, - nhưng điều này buộc tôi phải hỏi lại ngài một câu: vậy ngài cho cái "vô nghĩa" theo ý ngài là như thế nào? Và liệu có liên quan gì đến vấn đề ngài từ bỏ thế giới, sống ẩn dật một cách có ý thức trong khu vườn cấm cô quạnh này?
Trên màn ảnh lại xuất hiện một khuôn mặt câm với cặp môi mấp máy. Trông khuôn mặt ấy giống như con cá vừa bị lôi ra khỏi nước. Đó là một người phụ nữ chừng ba lăm tuổi, biết đưa đẩy cặp mắt không kém phần đỏng đảnh dễ thương của mình.
Tôi nhìn ngài giáo sư đang im lặng tìm câu trả lời, ông chăm chú nhìn màn hình, nhìn người phụ nữ trên tivi và tôi bỗng nhiên nhận ra rằng ông ta đã từ bỏ không chỉ thế giới ông từng sống mà còn từ bỏ một cái gì đó lớn hơn thế nữa.
- Nói cách khác, anh muốn hỏi là có phải tôi bỏ đến nơi hẻo lánh này bởi cho rằng thế giới của chúng ta mất trí cả rồi phải không?
- Vâng.
Kvasmu ném một cái nhìn như xoáy vào mặt tôi và cau mày làm hai hàng lông mày dính liền nhau thành một vệt.
- Biết làm sao được, có lẽ chúng ta cũng đã đạt đến điều này rồi! - Rồi ông đứng lên - Này nhà báo, thế sổ và bút của anh đâu?
- Tôi có trí nhớ đặc biệt ạ - Tôi trả lời, ngạc nhiên vì câu hỏi của giáo sư - Tôi đã quen tin tưởng ở trí nhớ hơn là tin vào bút với giấy.
- Thế càng tốt. Như vậy, nếu anh cho phép, tôi sẽ đặt câu hỏi thay anh nhé. Nếu tôi có nhầm lẫn điều gì thì anh bảo tôi, được không?
- Được ạ.
Ông ta kéo dép lệt sệt trước mặt tôi bước về phía bức tường. Đến bây giờ tôi mới nhìn thấy trên tường có những bức tranh khắc gỗ cực đẹp, khắc hình những con thú gì đó, vì ngồi xa nên nhìn không rõ. Rõ ràng là lúc nãy do chán nản quán nên tôi không quan sát cả căn phòng này.
- Trước hết nói về khu vườn sinh thái. Có lẽ nó làm anh tò mò hơn cả. Tôi xin nói ngay rằng đó không phải là mục đích chính công việc của tôi. Khu rừng này, nếu như có thể gọi như vậy, chỉ là hiệu ứng phụ của phát minh của tôi. Anh có hiểu chút ít về môn thực vật học chứ?
Tôi gật đầu.
- Như thế, anh sẽ dễ hiểu tôi hơn. Thật là một điều cực kỳ hấp dẫn khi cố tạo ra được một quần thể thực vật trong đó bao gồm đại diện của hầu hết các loài.
- Hầu hết ư? - tôi mạnh dạn hỏi - Nhưng mà không thể có điều đó được, bởi đối với mỗi loài…
- Có thể được - Kvasmu cười chua chát. - Có thể được. Trên thế gian này mọi điều đều có thể được. Tôi sẽ không đi sâu vào việc tranh luận mang tính triết học về phát minh của tôi. Tuy nhiên để anh hiểu rõ hơn cội nguồn của những gì đang xảy ra trong Trung tâm "Đấng cứu thế", tôi sẽ cố gắng một cách tối đa để anh nắm được tình hình. Thế đấy, chàng trai ạ, chắc anh biết virus là gì chứ?
Tôi gật đầu.
- Dù sao tôi cũng xin nhắc lại để anh rõ rằng virus theo cách biểu hiện đại là một đơn vị thông tin cực kỳ nhỏ được mã hoá, được thiên nhiên dùng để chuyển cho các vật thể sống, nghĩa là cho động vật và thực vật những tư liệu về sự thích nghi.
- Hãy khoan đã - Tôi ngạc nhiên nghi ngờ - thế chẳng lẽ virus không phải là vật thể nhỏ xíu gây bệnh hay sao?
(Còn nữa)