Những rắc rối kèm theo (Hồi ký- Kỳ 20)
Bị đe dọa “tống tiền”
Ngoài việc lo xuất bản báo tết 2005 như đã nói ở trên, chúng tôi còn phải đối phó với nhiều rắc rối khác liên quan tới việc Ngân bị bắt.
Một người lạ gọi điện thoại cho tôi, nói rằng anh ta đang giữ hợp đồng quảng cáo của Tổng Công ty dầu khí, và có thể lo cả hợp đồng QC của Ngân hàng công thương nữa cho báo KH&ĐS. Tôi mời đến Tòa soạn, có cả chị Vụ cùng tiếp. Anh ta xưng tên T, ở Công ty X., và nói đại ý rằng Ngân đã hứa với anh ta sẽ chi 40% giá trị hợp đồng. Chúng tôi biết ngay là cậu này tranh thủ “đục nước béo cò” vì chưa bao giờ chúng tôi chi cho Ngân đến 40% cả! Tôi nói chỉ có thể chi 30%. Không thỏa thuận được, hắn nhất định không chịu đưa hợp đồng, lại còn dọa sẽ chuyển cho báo khác.
Tôi gọi điện thoại đến TCty dầu khí và Ngân hàng công thương, được biết hai hợp đồng đó họ đều đã giao cho cô H. là bạn thân của cô Ngân. Cô H. này bình thường vẫn qua lại Tòa soạn KH&ĐS, quen nhiều người của chúng tôi và cách đó vài ngày vừa nói chuyện qua điện thoại với tôi mà không hề nhắc gì đến hai hợp đồng đó. Hóa ra bây giờ cô ta lại cử người đến tống tiền Tòa soạn tôi hay sao? ( Đòi phần trăm cao đổi lấy việc đưa hợp đồng đã ký, cho dù không phải của họ trực tiếp giao dịch, cũng chính là hành động tống tiền chứ gì nữa!).
Tôi cho mọi người biết sự việc và lại gọi trực tiếp cho H hỏi về hợp đồng. H viện cớ bận rộn này nọ để chống chế. Tôi nói thẳng về việc tống tiền, cô ta đành phải hẹn sẽ đưa hợp đồng đến nhưng vẫn lần lữa, tôi phải nói Tú Anh và Lê Thành (hai người đều quen cô H qua Ngân) thúc giục, cô ta mới đưa hợp đồng đến Tòa soạn cho tôi nhưng ra điều kiện phải trích phần trăm cho Ngân. Tôi kiên quyết nói không thể hứa hẹn được gì hết.
Sau T, một cậu trẻ tuổi khác xưng là H, ở Học viện Hành chính quốc gia (?), lại liên tục gọi ĐT đến, lúc đầu là gọi cho Vụ và Quy, sau là trực tiếp gọi cho tôi, để đòi phần trăm hoa hồng của hợp đồng QC với Cty dầu khí Petrovietnam. Chúng tôi không ai biết cậu ta từ trước tới nay, đương nhiên không thể thanh toán tiền được. Cậu ta nói “không biết chị Ngân bỗng nhiên đi đâu mất”. Không tin dược là cậu ta không biết, nhưng dù sao tôi cũng thiện chí nói với cậu rằng Ngân đã bị bắt và mọi việc tiền nong liên quan đến Ngân phải dừng lại. Tuy nhiên hắn không chịu dừng mà khăng khăng cho rằng trong trường hợp này Tòa soạn Báo phải thanh toán tiền hoa hồng QC cho hắn. Hỏi tên họ đầy đủ, nơi làm việc cụ thể và số ĐT liên lạc thì hắn nhất định không nói, chỉ một mực đòi tiền. Thậm chí giáp Tết Ất Dậu 2005, hắn gọi ĐT cho tôi dọa sẽ đến nhà tôi đòi tiền trong những ngày Tết. Tôi thông báo cho mọi người trong Tòa soạn biết việc đó, đồng thời gọi ĐT cho công an điều tra vụ của Ngân biết. Phía công an dặn nếu hắn còn hỏi nữa thì bảo đến công an mà hỏi; còn nếu hắn đến nhà tôi gây sự thì gọi ngay cho họ hoặc cho 113. Sau Tết chừng hơn một tháng, hắn lại gọi ĐT đòi tiền tôi. Hắn nói:
- Qua Tết rồi, chị có tính trả tiền cho cộng tác viên không đấy?
- Cậu cho tôi biết tên họ đầy đủ, số điện thoại liên lạc của cậu, và cậu làm việc ở bộ phận nào của Học viện hành chính quốc gia?- Tôi hỏi lại.
- Chị cứ cho biết chủ trương có trả tiền cho CTV không, nếu trả thì em sẽ đến Tòa soạn và sẽ có đủ giấy tờ, kể cả chứng minh thư!
- Thôi, nếu cậu vẫn không muốn nói thì thôi, và cũng không cần đến gặp tôi làm gì. Cậu hãy liên hệ với công an kinh tế PC15 mà hỏi.
- Việc gì em phải đến công an! Em chỉ biết chị thôi.
- Công an dặn chúng tôi rằng các trường hợp cộng tác viên của Ngân mà liên lạc với Tòa báo thì đều bảo đến làm việc với họ; tôi chỉ làm cái việc truyền đạt ý kiến của công an cho cậu thôi.
-…(im lặng)
- Thôi chào cậu nhé.
Và tôi cúp máy.
Từ đó, tôi không bị quấy nhiễu nữa.
Đòi hồ sơ gốc
Một buối sáng, tôi vô tình nhấc điện thoại phòng Vụ - Quy khi cả hai người đều vắng. Người ở đầu dây bên kia gọi tới là cô Đỗ Thị Vân- Trưởng Ban Tổ chức cán bộ LHH. Vân bảo tôi rằng đã có các thông tư hướng dẫn điều chỉnh lương mới, cho người đến LHH mà lấy. Tôi cám ơn, mừng lắm vì đang mong những văn bản ấy. Chạy ra cửa vừa thấy Vụ đi về, tôi nói đi lấy văn bản lương ngay. Khoảng hơn một giờ sau, Vụ về tới Tòa soạn, mang theo các văn bản về lương, đồng thời bảo tôi rằng
LHH đề nghị nộp ngay hồ sơ của Ngân, của cả các Trưởng Phó ban khác nữa. Vừa rồi bên công an đến LHH làm việc về vụ Kim Ngân, ông Tăng hỏi mà Vân không có hồ sơ gì cả. Vụ việc này này chắc ông Tăng không để yên đâu (Ông Nguyễn Hữu Tăng là Phó Chủ tịch, là thành viên Đảng đoàn LHH, sau Đại hội vừa rồi còn kiêm cả Chủ nhiệm ủy ban Kiểm tra LHH nữa).
- Nếu nộp hồ sơ thì ta cũng phải photo giữ lại chứ nhỉ - bị bất ngờ, tôi chỉ phản ứng như thế.
- Thôi, photo làm gì, nộp hết luôn hôm nay cho họ.
- Ờ, thì để xem…
Tôi lo lắng và suy nghĩ: tại sao Vân không nói gì với mình chỉ trước đó 5 phút, là thời gian vừa đủ để Vụ đi từ cơ quan Báo KH&ĐS ở 70 Trần Hưng Đạo đến LHH ở 53 Nguyễn Du, mà lại đòi hỏi Vụ phải giao nộp hồ sơ gốc (Chị Vụ là trưởng Ban trị sự, giúp việc cho Tổng biên tập về công tác tổ chức nên là người giữ hồ sơ gốc của mọi người trong Tòa soạn), lại phải nộp ngay và lại nói với Vụ những điều có tính chất đe dọa như thế? Phải chăng có điều gì đó không bình thường ở đây?
Sau giờ nghỉ trưa, tôi nói với Vụ:
- Vụ bảo với Vân: nếu Vân hay ông Tăng muốn lấy hồ sơ gốc của bất kỳ ai ở Báo cũng đều phải làm công văn cho Báo về việc đó. Theo Nghị định mới (NĐ 116/NĐ- TTg, năm 2004) thì Báo ta lưu giữ hồ sơ gốc chứ không phải là cơ quan chủ quản (trước khi có Nghị định 116 toàn bộ hồ sơ gốc của những người trong biên chế và hợp đồng dài hạn của Báo đều do LHH giữ).
Vụ gọi ĐT cho Vân:
- Vân à, chị Hiên bảo phải làm công văn …..
Bên kia nói gì một lúc, tôi không rõ…
- Vân nói chuyện với chị Hiên nhé. - Vụ chuyển ống nghe cho tôi.
Tôi hỏi:
- Sao sáng nay Vân không nói gì với mình về chuyện hồ sơ?
- À, là vì sau đó anh Tăng yêu cầu.
- Thế thì gửi cho mình cái công văn vì theo quy định mới thì cơ quan Báo phải lưu hồ sơ gốc của cán bộ.
- Thôi, chị cho bản photo cũng được.
- Bản photo thì được, chứ nếu muốn hồ sơ gốc dứt khoát phải có công văn yêu cầu mình mới cho chuyển.- Tôi nhắc lại.
Tôi không tin là chỉ trong vòng 5 phút mà ông Tăng lại có thể kịp làm việc, bàn bạc với cô Vân cả vấn đề hệ trọng như thế. Nhưng dù sao ngay buổi chiều hôm đó tôi vẫn nói chị Thành photo hồ sơ của toàn bộ các trưởng phó ban của Báo KH&ĐS để gửi cho Vân. Ba hôm sau, tôi hỏi, Vụ nói vẫn chưa chuyển những hồ sơ đó vì “Vân đang nghỉ phép”! Tôi liền nói:
- Vụ thấy chưa: họ có cần bộ hồ sơ này ngay đâu. Nếu như mình không nhớ ra Nghị định mới mà cho chuyển ngay hết hồ sơ gốc theo yêu cầu của họ thì sau này biết ăn nói ra sao nếu như các cơ quan điều tra hỏi đến?! Cho nên từ nay chúng mình phải hết sức thận trọng mới được.
Chị Vụ thấy ra vấn đề và nhất trí với tôi như vậy.
(Kỳ sau:Cả Tòa soạn đi nước ngoài )
16 thg 11, 2007
15 thg 11, 2007
KN bị bắt! (Hồi ký- Kỳ 19)
Chương 8: TAI HỌA BẤT NGỜ: KIM NGÂN BỊ BẮT! (Hồi ký- Kỳ 19)
Cú sốc lớn
Ngày Thứ Hai, 27/12/2004, tôi đang dự đại hội nội bộ LHH, chuẩn bị cho đại hội chính thức sẽ diễn ra vào ngày hôm sau thì chị Vụ gọi điện thoại nói nên về Tòa soạn gấp.
Về tới TS, tôi nghe nói cô Thúy béo nào đó (mà tôi chưa trông thấy bao giờ) là cộng tác viên của Kim Ngân, trưởng phòng Phát hành- Quảng cáo, đã bị bắt rồi và Ngân đang rất lo vì hình như dính dáng gì đó vào việc in danh bạ điện thoại. Tôi chưa kịp hỏi rõ hơn cái thông tin đầy bất ngờ đó thì một người lạ mặt vào tận phòng TBT, đưa thẻ công an điều tra để tự giới thiệu và nhờ tôi gọi hộ Vũ Thị Kim Ngân về TS vì Ngân có liên quan đến một vụ án, anh ta đợi suốt từ sáng mà không gặp được Ngân. “Cô đừng nói là có CA điều tra mà chỉ nói cần gặp ngay thôi nhé”- anh công an trẻ yêu cầu, gọi tôi là cô xưng cháu một cách thân thiện và không chịu ngồi ở phòng khách theo lời mời của tôi mà theo tôi vào tận bàn làm việc. Sau này tôi mới nghĩ ra tại sao lại như thế: có lẽ anh ta còn phải theo dõi thái độ của tôi để xác định xem liệu tôi có đồng lõa gì với KN không, liệu tôi có hành động gì che mắt công an không…
Tôi liên lạc được với Ngân, bảo về Tòa soạn ngay. Khi Ngân vào phòng tôi, anh CA mới đưa giấy giới thiệu của cơ quan CA triệu tập Ngân để thẩm vấn phục vụ việc điều tra vụ án, và yêu cầu cô thu xếp đi luôn( khoảng hơn 10 giờ sáng).
Khoảng hơn 16 giờ cùng ngày, đang tiếp tục dự đại hội LHH ở Bảo tàng HCM thì tôi lại nhận được điện thoại, trực tiếp của trưởng nhóm CA điều tra mời về TS ngay để hỗ trợ điều tra vụ việc cô Ngân.
Tại TS, nhóm CA điều tra gặp riêng tôi cho biết về việc có lệnh bắt cô Ngân vì liên quan đến vụ án in danh bạ điện thoại, móc tiền của Nhà nước chia nhau tới cả chục tỉ đồng, là vụ án nghiêm trọng, yêu cầu cơ quan Báo tạo điều kiện thực hiện lệnh đó.
Tôi và chị Vụ phải làm chứng việc bắt và khám xét bàn làm việc của Ngân, đến khoảng gần 18 giờ mới xong và Ngân, lúc này đã là bị can, lại bị tiếp tục đưa về nhà riêng để khám xét ở đó.
Trời hôm đó rét lắm. Nhìn Ngân bị đưa lên xe CA mà chỉ mặc một chiếc áo len mỏng, tôi tuy giận lắm nhưng lại thấy tội nghiệp, bảo nên lấy áo ấm của tôi mà mặc thêm (tôi thường có áo ấm dự phòng để ở cơ quan), Tú Anh cũng nói vậy nhưng Ngân nói không rét.
Khỏi phải nói là tôi ngao ngán và buồn tới mức nào. Cả Tòa soạn nháo nhác vì cú sốc này. Trước mắt tôi thật nhiều nỗi lo do sự kiện động trời này đem lại: Chỉ còn một tuần nữa là phải in báo Tết Ất Dậu 2005 trong khi vẫn phải ra báo thường, mỗi tuần hai kỳ báo chính và một kỳ chuyên đề, lại còn phụ san nữa; phải lo thế nào với số 25 trang quảng cáo trên báo Tết mà Ngân đã đăng ký; phải trấn an tinh thần để ổn đinh tư tưởng cho mọi người trong Tòa soạn thế nào; liệu có ai trong Tòa soạn bị lôi kéo vào vụ này không, liệu bên CA sẽ có yêu cầu TS việc gì nữa không v.v…Có những việc cần phải làm ngay nhưng cũng có những việc cần chờ thời gian mới trả lời được.
Ngày hôm sau, tôi vẫn đi dự đại hội chính thức của LHH ở Nhà hát lớn nhưng đồng thời vẫn chỉ huy các công việc cần. Trước hết, tôi nói chị Vụ soạn thảo quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với Ngân, còn tôi làm công văn báo cáo lãnh đạo LHH, Đảng ủy và Đảng đoàn LHH về việc vừa xảy ra. Mặt khác, tôi phân công mọi người, chủ yếu là trong Ban Trị sự cùng tôi rà soát lại các hợp đồng quảng cáo Báo Tết, liên hệ với những đơn vị đã ký hợp đồng xem họ có đồng ý tiếp tục đăng quảng cáo hay không để kịp thời làm báo Tết, sẽ phát hành vào ngày 8/1/2005, trước Tết một tháng. Bên cạnh đó còn phải điện đi các nơi mà hợp đồng quảng cáo và hợp đồng phát hành đã thực hiện xong để đòi tiền vì vừa là thời điểm cuối năm.
Vài ba ngày sau, rồi cả một tuần, mươi ngày sau đó các báo bắt đầu rầm rộ đăng tin, bài về vụ việc này, nói rõ là cô Ngân chủ mưu môi giới Bưu điện Nghệ An, Bưu điện Hà Tây với cơ sở in tư nhân nâng giá thành in danh bạ điện thoại lên gấp nhiều lần, hưởng chênh lệch cả chục tỉ đồng.
Có điều lạ là mặc dù không một phóng viên nào của các báo ấy hỏi tôi về việc Ngân là Trưởng phòng QC-PH của Báo KH&ĐS như thế nào, nhưng họ đều đồng loạt nói rằng cô Ngân làm trưởng phòng đã hai năm, và họ suy diễn tiếp là nhờ chức vụ đó mà móc nối được như thế! Trên thực tế, Ngân mới chỉ được đề bạt có 4 tháng, thời hạn đề bạt là 6 tháng để thử việc, còn việc môi giới ăn tiền kia đã tiến hành từ lúc nào chẳng rõ, và cô ta cùng với những bạn làm ăn cũng đâu có cần đến danh tiếng của Báo KH&ĐS bởi họ có những mối quan hệ mạnh hơn Báo nhiều.
Sau hơn một tuần, không ai ở TS bị CA “hỏi thăm” ( trong khi theo anh chị em phản ánh thì người lái xe của Ngân (Ngân có ô tô riêng) và những người bạn thân của Ngân bị thẩm vấn nhiều lần). Phần tôi, tôi cũng chẳng có gì e ngại dính dáng vì tôi không hề cấp một giấy giới thiệu hay công lệnh gì cho Ngân liên quan đến viêc in ấn ấy cả. Số trang quảng cáo báo Tết còn giữ được và có thêm được tổng cộng là 13 trang- như vậy đối với chúng tôi cũng là quá tốt rồi. Hơn một chục đơn vị cô Ngân đăng ký có quảng cáo nhưng chưa thấy có hợp đồng thì chúng tôi không liên hệ nữa vì không thể có thời gian nữa. Số lượng báo các nơi đăng ký mua cũng được khá hơn năm trước những gần 2000 tờ. Đó là những tín hiệu tốt.
Tôi mời họp toàn Tòa soạn, nói rõ sự việc, các việc đã tiến hành và khẳng định để anh chị em yên tâm là không có ai ở TS có dính dáng gì với Ngân trong việc này, bây giờ mọi người cần tập trung phát hành báo Tết thật tốt, lo báo thường cho tốt và tìm hướng đi cho năm mới để bảo đảm thu nhập. Không thấy Tòa soạn “bị” gì, nên tư tưởng mọi người lại ổn định trở lại, lại tích cực cùng tôi lo công việc ngày càng dồn dập hơn vì Tết đã tới nơi. Nhưng nhiều rắc rối sẽ ló dạng dần…
(Kỳ sau: Bị đe dọa…)
Cú sốc lớn
Ngày Thứ Hai, 27/12/2004, tôi đang dự đại hội nội bộ LHH, chuẩn bị cho đại hội chính thức sẽ diễn ra vào ngày hôm sau thì chị Vụ gọi điện thoại nói nên về Tòa soạn gấp.
Về tới TS, tôi nghe nói cô Thúy béo nào đó (mà tôi chưa trông thấy bao giờ) là cộng tác viên của Kim Ngân, trưởng phòng Phát hành- Quảng cáo, đã bị bắt rồi và Ngân đang rất lo vì hình như dính dáng gì đó vào việc in danh bạ điện thoại. Tôi chưa kịp hỏi rõ hơn cái thông tin đầy bất ngờ đó thì một người lạ mặt vào tận phòng TBT, đưa thẻ công an điều tra để tự giới thiệu và nhờ tôi gọi hộ Vũ Thị Kim Ngân về TS vì Ngân có liên quan đến một vụ án, anh ta đợi suốt từ sáng mà không gặp được Ngân. “Cô đừng nói là có CA điều tra mà chỉ nói cần gặp ngay thôi nhé”- anh công an trẻ yêu cầu, gọi tôi là cô xưng cháu một cách thân thiện và không chịu ngồi ở phòng khách theo lời mời của tôi mà theo tôi vào tận bàn làm việc. Sau này tôi mới nghĩ ra tại sao lại như thế: có lẽ anh ta còn phải theo dõi thái độ của tôi để xác định xem liệu tôi có đồng lõa gì với KN không, liệu tôi có hành động gì che mắt công an không…
Tôi liên lạc được với Ngân, bảo về Tòa soạn ngay. Khi Ngân vào phòng tôi, anh CA mới đưa giấy giới thiệu của cơ quan CA triệu tập Ngân để thẩm vấn phục vụ việc điều tra vụ án, và yêu cầu cô thu xếp đi luôn( khoảng hơn 10 giờ sáng).
Khoảng hơn 16 giờ cùng ngày, đang tiếp tục dự đại hội LHH ở Bảo tàng HCM thì tôi lại nhận được điện thoại, trực tiếp của trưởng nhóm CA điều tra mời về TS ngay để hỗ trợ điều tra vụ việc cô Ngân.
Tại TS, nhóm CA điều tra gặp riêng tôi cho biết về việc có lệnh bắt cô Ngân vì liên quan đến vụ án in danh bạ điện thoại, móc tiền của Nhà nước chia nhau tới cả chục tỉ đồng, là vụ án nghiêm trọng, yêu cầu cơ quan Báo tạo điều kiện thực hiện lệnh đó.
Tôi và chị Vụ phải làm chứng việc bắt và khám xét bàn làm việc của Ngân, đến khoảng gần 18 giờ mới xong và Ngân, lúc này đã là bị can, lại bị tiếp tục đưa về nhà riêng để khám xét ở đó.
Trời hôm đó rét lắm. Nhìn Ngân bị đưa lên xe CA mà chỉ mặc một chiếc áo len mỏng, tôi tuy giận lắm nhưng lại thấy tội nghiệp, bảo nên lấy áo ấm của tôi mà mặc thêm (tôi thường có áo ấm dự phòng để ở cơ quan), Tú Anh cũng nói vậy nhưng Ngân nói không rét.
Khỏi phải nói là tôi ngao ngán và buồn tới mức nào. Cả Tòa soạn nháo nhác vì cú sốc này. Trước mắt tôi thật nhiều nỗi lo do sự kiện động trời này đem lại: Chỉ còn một tuần nữa là phải in báo Tết Ất Dậu 2005 trong khi vẫn phải ra báo thường, mỗi tuần hai kỳ báo chính và một kỳ chuyên đề, lại còn phụ san nữa; phải lo thế nào với số 25 trang quảng cáo trên báo Tết mà Ngân đã đăng ký; phải trấn an tinh thần để ổn đinh tư tưởng cho mọi người trong Tòa soạn thế nào; liệu có ai trong Tòa soạn bị lôi kéo vào vụ này không, liệu bên CA sẽ có yêu cầu TS việc gì nữa không v.v…Có những việc cần phải làm ngay nhưng cũng có những việc cần chờ thời gian mới trả lời được.
Ngày hôm sau, tôi vẫn đi dự đại hội chính thức của LHH ở Nhà hát lớn nhưng đồng thời vẫn chỉ huy các công việc cần. Trước hết, tôi nói chị Vụ soạn thảo quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với Ngân, còn tôi làm công văn báo cáo lãnh đạo LHH, Đảng ủy và Đảng đoàn LHH về việc vừa xảy ra. Mặt khác, tôi phân công mọi người, chủ yếu là trong Ban Trị sự cùng tôi rà soát lại các hợp đồng quảng cáo Báo Tết, liên hệ với những đơn vị đã ký hợp đồng xem họ có đồng ý tiếp tục đăng quảng cáo hay không để kịp thời làm báo Tết, sẽ phát hành vào ngày 8/1/2005, trước Tết một tháng. Bên cạnh đó còn phải điện đi các nơi mà hợp đồng quảng cáo và hợp đồng phát hành đã thực hiện xong để đòi tiền vì vừa là thời điểm cuối năm.
Vài ba ngày sau, rồi cả một tuần, mươi ngày sau đó các báo bắt đầu rầm rộ đăng tin, bài về vụ việc này, nói rõ là cô Ngân chủ mưu môi giới Bưu điện Nghệ An, Bưu điện Hà Tây với cơ sở in tư nhân nâng giá thành in danh bạ điện thoại lên gấp nhiều lần, hưởng chênh lệch cả chục tỉ đồng.
Có điều lạ là mặc dù không một phóng viên nào của các báo ấy hỏi tôi về việc Ngân là Trưởng phòng QC-PH của Báo KH&ĐS như thế nào, nhưng họ đều đồng loạt nói rằng cô Ngân làm trưởng phòng đã hai năm, và họ suy diễn tiếp là nhờ chức vụ đó mà móc nối được như thế! Trên thực tế, Ngân mới chỉ được đề bạt có 4 tháng, thời hạn đề bạt là 6 tháng để thử việc, còn việc môi giới ăn tiền kia đã tiến hành từ lúc nào chẳng rõ, và cô ta cùng với những bạn làm ăn cũng đâu có cần đến danh tiếng của Báo KH&ĐS bởi họ có những mối quan hệ mạnh hơn Báo nhiều.
Sau hơn một tuần, không ai ở TS bị CA “hỏi thăm” ( trong khi theo anh chị em phản ánh thì người lái xe của Ngân (Ngân có ô tô riêng) và những người bạn thân của Ngân bị thẩm vấn nhiều lần). Phần tôi, tôi cũng chẳng có gì e ngại dính dáng vì tôi không hề cấp một giấy giới thiệu hay công lệnh gì cho Ngân liên quan đến viêc in ấn ấy cả. Số trang quảng cáo báo Tết còn giữ được và có thêm được tổng cộng là 13 trang- như vậy đối với chúng tôi cũng là quá tốt rồi. Hơn một chục đơn vị cô Ngân đăng ký có quảng cáo nhưng chưa thấy có hợp đồng thì chúng tôi không liên hệ nữa vì không thể có thời gian nữa. Số lượng báo các nơi đăng ký mua cũng được khá hơn năm trước những gần 2000 tờ. Đó là những tín hiệu tốt.
Tôi mời họp toàn Tòa soạn, nói rõ sự việc, các việc đã tiến hành và khẳng định để anh chị em yên tâm là không có ai ở TS có dính dáng gì với Ngân trong việc này, bây giờ mọi người cần tập trung phát hành báo Tết thật tốt, lo báo thường cho tốt và tìm hướng đi cho năm mới để bảo đảm thu nhập. Không thấy Tòa soạn “bị” gì, nên tư tưởng mọi người lại ổn định trở lại, lại tích cực cùng tôi lo công việc ngày càng dồn dập hơn vì Tết đã tới nơi. Nhưng nhiều rắc rối sẽ ló dạng dần…
(Kỳ sau: Bị đe dọa…)
12 thg 11, 2007
99 câu hỏi...(Hồi ký- kỳ 18)
ANH bia sach cao hoi lich su
99 câu hỏi về Lịch sử Việt Nam (Hồi ký- Kỳ 18)
Chẳng mấy chốc đã đến lúc phải chuẩn bị cho kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Báo Khoa học và Đời sống, tháng 9/2004.
Nếu như khi kỷ niệm 40 năm, chúng tôi đã xuất bản cuốn “ 40 năm Khoa học và Đời sống” chỉ để biếu thì giờ đây, theo ý tôi, phải làm cái gì đó vừa để kỷ niệm vừa sinh ra tiền mới được.
Cho đến năm 2005, Báo Khoa học và Đời sống nếu tập hợp nhiều năm lại thì sẽ hình thành những nguồn tư liệu rất quý. Điều này không chỉ chúng tôi mà nhiều người khác cũng thấy, thậm chí đã có người muốn lợi dụng cách “sưu tầm” để làm sách kiếm tiền từ nguồn KH&ĐS. Ngay NXB VHTT trong cuốn Almanach Những nền văn minh thế giới xuất bản năm 1995 cũng đã “lấy không” của KH&ĐS tới 10 bài (trong đó có 4 bài của tôi , chủ yếu là chuyện kể về các nhà bác học) mà Tòa soạn cũng như các tác giả của các bài báo đó không hề được biết, cũng chẳng có sách biếu hay nhuận bút. Không những thế, tên tác giả còn bị lờ đi hoặc viết tắt để khó nhận ra!
Một người của Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin đề xuất với tôi: NXB VHTT sẽ đứng ra xuất bản một cuốn sách lớn, dày cỡ cả chục centimet, tập hợp những bài đã đăng trên KH&ĐS. Sách đó, nếu làm được, sẽ rất ấn tượng. Phương án của anh ấy đề ra là chúng tôi chuẩn bị toàn bộ bản thảo, lo quan hệ với các tác giả của các bài báo sẽ đăng trong sách; NXB lo giấy phép, chịu trách nhiệm biên tập. Khâu in ấn và phát hành nếu Báo thấy khó thì có thể giao cho một Nhà sách mà anh ấy sẽ giới thiệu cho. Tính đi tính lại, tôi thấy nếu làm theo phương án đó thì công sức Tòa soạn chúng tôi bỏ ra sẽ rất lớn, mà sau khi trừ chi phí cho mọi khâu thì giỏi ra chúng tôi chỉ còn khoảng ba chục triệu đồng để trả công cho anh chị em là cùng. Đó là còn chưa kể đến sự phức tạp khi tính nhuận bút cho rất nhiều tác giả, bởi bài vở sẽ lấy từ nguồn 45 năm của Báo chúng tôi. Không thể được! Tôi xoay ra tìm cách khác.
Khi Báo mới tăng đều 2 kỳ/tuần, anh Mai bàn với tôi mời GS Lê Văn Lan cung cấp bài thường xuyên cho mục GS LVL trả lời trên số ra Thứ Sáu hằng tuần và có hứa sau này sẽ tập hợp in thành sách. Tuy nhiên, có xuất bản hay không và ra sách như thế nào thì tôi phải cân nhắc kỹ trước khi quyết định, bởi thành bại thế nào đều do tôi chịu trách nhiệm.
Tôi tranh thủ thời gian la cà các hiệu sách, thấy rằng loại sách hỏi đáp về lịch sử một cách phổ thông và đặc sắc như cách đưa của KH&ĐS hầu như chưa có. Như vậy là có cầu- một yếu tố rất quan trọng. Thế là tôi quyết định: sẽ tập hợp các bài giải đáp về lịch sử của giáo sư Lê Văn Lan đã đăng hai năm vừa qua trên báo chúng tôi để làm sách vào dịp kỷ niệm này, vừa là đánh dấu việc Khoa học và Đời sống chuyển mình: làm phổ biến kiến thức về khoa học xã hôi cũng giỏi không kém gì phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật (là truyền thống của Báo), vừa chắc chắn sẽ có doanh thu.
Nghỉ Tết xong, tôi bàn với mọi người trong Tòa soạn. Đạt được sự nhất trí và ủng hộ của anh chị em, tôi mời GS Lê Văn Lan tới Tòa soạn trình bày ý định ấy và xin phép tác giả để Báo làm sách. GS LVL rất phấn khởi, nhất là về khuôn khổ cuốn sách (16 x 24 cm, nhỏ hơn khổ A4 một chút, trông khá đặc biệt). Ông đồng ý ngay và cùng chúng tôi chuẩn bị cho việc ra cuốn sách đặc biệt. Một hợp đồng giữa Tòa soạn và GS LVL được soạn thảo ngay, trong đó nêu rõ GS LVL đồng ý để Tòa soạn Báo KH&ĐS xuất bản sách, GS chỉ nhận 50 cuốn sách và 1.000.000đ tiền nhận bút. Về khoản tiền nhuận bút này, đầu tiên tôi chủ động nêu sẽ trả 10% giá bìa là giá cao nhất theo quy định hiện hành nhưng GS LVL bảo mỗi kỳ đăng báo Tòa soạn đã trả nhuận bút cho từng bài cao rồi nên chỉ “xin tạm ứng luôn cho một triệu đồng để ăn tháng này !”. Tôi rất cảm kích và gửi ngay GS số tiền đó. Tấm lòng của cộng tác viên đối với Tòa soạn là như vậy đó.
Trong những ngày nghỉ Tết, tôi đã ngồi tính toán: nếu in được một vạn cuốn thì sẽ thắng lớn! Tuy nhiên, khi nêu con số 1 vạn thì cả anh Mai và chị Vụ đều can là không thể được đâu vì thị trường sách trong nước hiện nay đa phần chỉ chấp nhận mỗi cuốn sách in từ 500 - 1000 cuốn mà thôi. Trao đi đổi lại, mọi người thống nhất chỉ in 1500 cuốn, biếu 500 cuốn, bán được 1000 cuốn cũng là khá lắm rồi. Tuy nhiên tôi vẫn xin phép Bộ VHTT in 5000 cuốn, trong bụng nghĩ: biết đâu đấy!
Họp giao ban, tôi đề xuất mấy ý kiến:
- Sẽ thông báo tới bạn đọc về việc xuất bản sách này sau khi có giấy phép và mời bạn đọc đặt mua sách cùng với dịp đặt mua báo quý 3/2004; có nghĩa là dùng đường phát hành báo chí trung ương để bán sách này như một ấn phẩm đặc biệt nhân kỷ niệm Báo 45 năm.
- Giá bán sách chỉ nên để thấp thôi vì là sách kỷ niệm, nên bán rẻ cho bạn đọc, coi như một sự tri ân đối với họ do họ đã ủng hộ mua Báo thường xuyên.
Mọi người cho rằng nên để như giá thị trường vì giá thấp người ta dễ nghĩ là sách kém chất lượng.
Quả là cái lý ấy tôi không nghĩ tới. Tôi nghe theo mọi người, và sau khi bàn bạc chúng tôi thống nhất sẽ bán với giá 25.000đ/cuốn (là có rẻ bởi nếu theo giá thị trường thật sự, tương đương với các sách khác thì giá bán phải là 30 000đ/cuốn).
Trước Tết, tôi được ông Đặng Mộng Lân tặng một cuốn sách của ông mới xuất bản. Thấy khuôn khổ, độ trắng của giấy khá ưng ý, tôi dò la tìm biết được giá thành in của cuốn sách đó. Tôi cho rằng in theo khuôn khổ và giấy trắng như thế sẽ được cuốn sách đẹp và sang trọng.
Về việc đặt tên cho cuốn sách cũng có điều nên nhắc tới.
Anh Mai đề xuất nên đặt là Những bí ẩn của Lịch sử Việt Nam, nghe hấp dẫn và dễ lôi cuốn người đọc. Tuy nhiên khi đến Bộ VHTT xin giấy phép thì ngay chị Hồng là chuyên viên làm trực tiếp với Báo chúng tôi đã không đồng ý với tên đó vì lịch sử bao giờ cũng là vấn đề nhạy cảm. Tôi đành phải đổi là Lịch sử Việt Nam - Hỏi và Đáp và được chấp nhận. Khi họp ở Tòa soạn, GS LVL không ưng tên gọi đó nhưng cũng phải chấp nhận vì không lo được giấy phép thì chẳng có cách nào mà in sách được. Chọn tên gọi trung dung và không sợ hại đến ai ấy, tôi dự định khi trình bày sẽ chỉ làm nổi bật phần Lịch sử - Hỏi và Đáp thì cũng gây bắt mắt với người đọc được. Và thực tế khi bắt tay vào làm, qua nhiều lần xem xét phác thảo bìa sách, tôi đã trao đổi với họa sĩ Quỳnh Mây ý tưởng đó và Mây đã trình bày được như thế.
Về nội dung, GS LVL có trách nhiệm phân ra từng phần, xem xét lại các bài viết đã đăng KH&ĐS, cần bổ sung, sửa chữa thì thêm, kể cả bổ sung thêm bài cho đủ 99 câu hỏi - đáp (ý tưởng 99 câu chứ không phải 100 câu là của GS LVL; ông cho rằng để 99 hay hơn, còn cò khả năng phát triển hơn là để 100. Tôi thấy hay hay nên cũng chấp nhận - dân gian vẫn cho số 10 là “số tịt” mà!); và tít phụ của cuốn sách sẽ là “99 câu hỏi về lịch sử VN”.
Sau khi tác giả chỉnh lý, bổ sung thì Tú Anh (là người phụ trách mục GS LVL trả lời) xem và biên tập thêm nếu cần; đến lượt anh Mai đọc toàn bộ rồi cuối cùng mới đến tôi. Sĩ Lâm thì lo khâu tập hợp bài từ các files có sẵn trong máy tính, sửa chữa và trình bày cả cuốn sách; Thuê họa sĩ Quỳnh Mây trình bày bìa. Với cách làm và quy trình như thế, công sức bỏ ra chỉ là rất ít so với việc nếu làm sách bự cùng NXB VHTT.
Về giá in, do tôi đã nắm được giá in cuốn sách của ông Đặng Mộng Lân như đã nói trên nên khi tôi cùng chị Vụ đến Xí nghiệp in Văn hóa phẩm đàm phán không bị bỡ ngỡ nữa. Tuy nhiên, vẫn bị họ tính đắt hơn một chút so với sách của ông Lân (sách ông Lân rẻ hơn vì NXB KHKT là khách quen thường xuyên của họ). Tính ra, giá giấy và công in cho cuốn sách ấy mà chúng tôi đàm phán được không đâu rẻ bằng (trong quá trình làm, do các tình huống phức tạp phát sinh, tôi phải cử Quy và bản thân tôi cũng hỏi giá in ở một số nơi khác nữa đều bị đòi cao hơn).
Khi tập hợp số lượng các nguồn đặt mua để in thì tổng cộng được khoảng gần 4000 cuốn. Thế là tôi ung dung in 5100 cuốn.
Trong khi đi vận động phát hành, Trần Văn Lương có báo cáo rằng có một nhà sách nhận phát hành với số lượng lớn, nhưng họ đòi được độc quyền phát hành. Phương án ấy không chấp nhận được vì chúng tôi đã thông báo rộng rãi từ tháng 4/2004, và bạn đọc đã đăng ký qua các bưu điện rồi. Hơn nữa, phát hành qua Bưu điện, chúng tôi chỉ mất 22% phí phát hành, trong khi nhà sách kia đòi độc quyền cũng phải mất cho họ tới 30% (thực tế phát hành phí của sách theo thị trường lúc này thường từ 30 - 50% giá bìa!).
Sau khi xuất bản sách được ít lâu, tôi được NXB VHTT mời dự họp báo về việc xuất bản ba tập sách Bộ thông sử thế giới vạn năm. Tại đó, tôi được biết hình thức xuất bản của họ là họ làm nội dung, còn vốn liếng bỏ ra in sách và phát hành là do Nhà sách Thắng Nguyên đảm trách. Cách làm sách này tôi mới được biết.
Về Tòa soạn, tôi hỏi lại Lương về NXB đã từng đòi độc quyền phát hành cuốn LSVN của ta là ai, Lương trả lời: Nhà sách của chị Nguyên. Xác định đúng là Nhà sách đó, mấy hôm sau tôi lẳng lặng đi tìm Nhà sách Thắng Nguyên.
Tôi đặt vấn đề với họ là sẽ in nối bản cuốn LSVN- H&Đ và giao họ độc quyền phát hành đợt in thứ hai này. Thấy sách bán chạy, họ đồng ý nhưng đòi 45% phí phát hành (mặc dù trước chỉ đòi 30%!). Mặc cả mãi, tôi chấp nhận chi 40% theo phương thức mua đứt bán đoạn, chúng tôi giao sách, còn họ trả tiền ngay cho toàn bộ số sách họ đặt là 5000 cuốn.
Tôi về thông báo ngay cho chị Vụ để tiến hành xin phép in nối bản và làm hợp đồng với Thắng Nguyên. Lần này chúng tôi in 5500 cuốn, bán luôn 5000 cuốn, còn 500 cuốn để lại cho Tòa soạn.
Thế là tổng số in của cuốn sách LSVN -H&Đ là 10600 cuốn, trong đó bán hết 9000 cuốn, còn lại chúng tôi không có chủ trương bán mà để biếu và làm quà tặng bạn đọc lai rai cả thời gian sau. Tôi cũng không quên biếu tác giả thêm 50 cuốn nữa.
Con số hơn 1 vạn cuốn là một kỷ lục làm sách thời kỳ này, là một việc tôi và cả Tòa soạn rất tự hào; riêng tôi, còn ngầm hãnh diện vì nó trùng hợp với con số dự định của tôi ngay từ lúc ban đầu là in 10 000 cuốn.
Nhờ có việc phát hành sách như vậy, chúng tôi không những có tiền trang trải cho lễ kỷ niệm 45 năm mà còn có lãi, lại được thêm danh tiếng vì làm được một cuốn sách có ích cho đông đảo người đọc, nhất là sau đó đến kỳ thi đại học báo chí kêu ầm lên là học sinh Việt Nam kém môn Lịch sử quá!
(Lần sau: Cú sốc lớn: KN bị bắt!)
99 câu hỏi về Lịch sử Việt Nam (Hồi ký- Kỳ 18)
Chẳng mấy chốc đã đến lúc phải chuẩn bị cho kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Báo Khoa học và Đời sống, tháng 9/2004.
Nếu như khi kỷ niệm 40 năm, chúng tôi đã xuất bản cuốn “ 40 năm Khoa học và Đời sống” chỉ để biếu thì giờ đây, theo ý tôi, phải làm cái gì đó vừa để kỷ niệm vừa sinh ra tiền mới được.
Cho đến năm 2005, Báo Khoa học và Đời sống nếu tập hợp nhiều năm lại thì sẽ hình thành những nguồn tư liệu rất quý. Điều này không chỉ chúng tôi mà nhiều người khác cũng thấy, thậm chí đã có người muốn lợi dụng cách “sưu tầm” để làm sách kiếm tiền từ nguồn KH&ĐS. Ngay NXB VHTT trong cuốn Almanach Những nền văn minh thế giới xuất bản năm 1995 cũng đã “lấy không” của KH&ĐS tới 10 bài (trong đó có 4 bài của tôi , chủ yếu là chuyện kể về các nhà bác học) mà Tòa soạn cũng như các tác giả của các bài báo đó không hề được biết, cũng chẳng có sách biếu hay nhuận bút. Không những thế, tên tác giả còn bị lờ đi hoặc viết tắt để khó nhận ra!
Một người của Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin đề xuất với tôi: NXB VHTT sẽ đứng ra xuất bản một cuốn sách lớn, dày cỡ cả chục centimet, tập hợp những bài đã đăng trên KH&ĐS. Sách đó, nếu làm được, sẽ rất ấn tượng. Phương án của anh ấy đề ra là chúng tôi chuẩn bị toàn bộ bản thảo, lo quan hệ với các tác giả của các bài báo sẽ đăng trong sách; NXB lo giấy phép, chịu trách nhiệm biên tập. Khâu in ấn và phát hành nếu Báo thấy khó thì có thể giao cho một Nhà sách mà anh ấy sẽ giới thiệu cho. Tính đi tính lại, tôi thấy nếu làm theo phương án đó thì công sức Tòa soạn chúng tôi bỏ ra sẽ rất lớn, mà sau khi trừ chi phí cho mọi khâu thì giỏi ra chúng tôi chỉ còn khoảng ba chục triệu đồng để trả công cho anh chị em là cùng. Đó là còn chưa kể đến sự phức tạp khi tính nhuận bút cho rất nhiều tác giả, bởi bài vở sẽ lấy từ nguồn 45 năm của Báo chúng tôi. Không thể được! Tôi xoay ra tìm cách khác.
Khi Báo mới tăng đều 2 kỳ/tuần, anh Mai bàn với tôi mời GS Lê Văn Lan cung cấp bài thường xuyên cho mục GS LVL trả lời trên số ra Thứ Sáu hằng tuần và có hứa sau này sẽ tập hợp in thành sách. Tuy nhiên, có xuất bản hay không và ra sách như thế nào thì tôi phải cân nhắc kỹ trước khi quyết định, bởi thành bại thế nào đều do tôi chịu trách nhiệm.
Tôi tranh thủ thời gian la cà các hiệu sách, thấy rằng loại sách hỏi đáp về lịch sử một cách phổ thông và đặc sắc như cách đưa của KH&ĐS hầu như chưa có. Như vậy là có cầu- một yếu tố rất quan trọng. Thế là tôi quyết định: sẽ tập hợp các bài giải đáp về lịch sử của giáo sư Lê Văn Lan đã đăng hai năm vừa qua trên báo chúng tôi để làm sách vào dịp kỷ niệm này, vừa là đánh dấu việc Khoa học và Đời sống chuyển mình: làm phổ biến kiến thức về khoa học xã hôi cũng giỏi không kém gì phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật (là truyền thống của Báo), vừa chắc chắn sẽ có doanh thu.
Nghỉ Tết xong, tôi bàn với mọi người trong Tòa soạn. Đạt được sự nhất trí và ủng hộ của anh chị em, tôi mời GS Lê Văn Lan tới Tòa soạn trình bày ý định ấy và xin phép tác giả để Báo làm sách. GS LVL rất phấn khởi, nhất là về khuôn khổ cuốn sách (16 x 24 cm, nhỏ hơn khổ A4 một chút, trông khá đặc biệt). Ông đồng ý ngay và cùng chúng tôi chuẩn bị cho việc ra cuốn sách đặc biệt. Một hợp đồng giữa Tòa soạn và GS LVL được soạn thảo ngay, trong đó nêu rõ GS LVL đồng ý để Tòa soạn Báo KH&ĐS xuất bản sách, GS chỉ nhận 50 cuốn sách và 1.000.000đ tiền nhận bút. Về khoản tiền nhuận bút này, đầu tiên tôi chủ động nêu sẽ trả 10% giá bìa là giá cao nhất theo quy định hiện hành nhưng GS LVL bảo mỗi kỳ đăng báo Tòa soạn đã trả nhuận bút cho từng bài cao rồi nên chỉ “xin tạm ứng luôn cho một triệu đồng để ăn tháng này !”. Tôi rất cảm kích và gửi ngay GS số tiền đó. Tấm lòng của cộng tác viên đối với Tòa soạn là như vậy đó.
Trong những ngày nghỉ Tết, tôi đã ngồi tính toán: nếu in được một vạn cuốn thì sẽ thắng lớn! Tuy nhiên, khi nêu con số 1 vạn thì cả anh Mai và chị Vụ đều can là không thể được đâu vì thị trường sách trong nước hiện nay đa phần chỉ chấp nhận mỗi cuốn sách in từ 500 - 1000 cuốn mà thôi. Trao đi đổi lại, mọi người thống nhất chỉ in 1500 cuốn, biếu 500 cuốn, bán được 1000 cuốn cũng là khá lắm rồi. Tuy nhiên tôi vẫn xin phép Bộ VHTT in 5000 cuốn, trong bụng nghĩ: biết đâu đấy!
Họp giao ban, tôi đề xuất mấy ý kiến:
- Sẽ thông báo tới bạn đọc về việc xuất bản sách này sau khi có giấy phép và mời bạn đọc đặt mua sách cùng với dịp đặt mua báo quý 3/2004; có nghĩa là dùng đường phát hành báo chí trung ương để bán sách này như một ấn phẩm đặc biệt nhân kỷ niệm Báo 45 năm.
- Giá bán sách chỉ nên để thấp thôi vì là sách kỷ niệm, nên bán rẻ cho bạn đọc, coi như một sự tri ân đối với họ do họ đã ủng hộ mua Báo thường xuyên.
Mọi người cho rằng nên để như giá thị trường vì giá thấp người ta dễ nghĩ là sách kém chất lượng.
Quả là cái lý ấy tôi không nghĩ tới. Tôi nghe theo mọi người, và sau khi bàn bạc chúng tôi thống nhất sẽ bán với giá 25.000đ/cuốn (là có rẻ bởi nếu theo giá thị trường thật sự, tương đương với các sách khác thì giá bán phải là 30 000đ/cuốn).
Trước Tết, tôi được ông Đặng Mộng Lân tặng một cuốn sách của ông mới xuất bản. Thấy khuôn khổ, độ trắng của giấy khá ưng ý, tôi dò la tìm biết được giá thành in của cuốn sách đó. Tôi cho rằng in theo khuôn khổ và giấy trắng như thế sẽ được cuốn sách đẹp và sang trọng.
Về việc đặt tên cho cuốn sách cũng có điều nên nhắc tới.
Anh Mai đề xuất nên đặt là Những bí ẩn của Lịch sử Việt Nam, nghe hấp dẫn và dễ lôi cuốn người đọc. Tuy nhiên khi đến Bộ VHTT xin giấy phép thì ngay chị Hồng là chuyên viên làm trực tiếp với Báo chúng tôi đã không đồng ý với tên đó vì lịch sử bao giờ cũng là vấn đề nhạy cảm. Tôi đành phải đổi là Lịch sử Việt Nam - Hỏi và Đáp và được chấp nhận. Khi họp ở Tòa soạn, GS LVL không ưng tên gọi đó nhưng cũng phải chấp nhận vì không lo được giấy phép thì chẳng có cách nào mà in sách được. Chọn tên gọi trung dung và không sợ hại đến ai ấy, tôi dự định khi trình bày sẽ chỉ làm nổi bật phần Lịch sử - Hỏi và Đáp thì cũng gây bắt mắt với người đọc được. Và thực tế khi bắt tay vào làm, qua nhiều lần xem xét phác thảo bìa sách, tôi đã trao đổi với họa sĩ Quỳnh Mây ý tưởng đó và Mây đã trình bày được như thế.
Về nội dung, GS LVL có trách nhiệm phân ra từng phần, xem xét lại các bài viết đã đăng KH&ĐS, cần bổ sung, sửa chữa thì thêm, kể cả bổ sung thêm bài cho đủ 99 câu hỏi - đáp (ý tưởng 99 câu chứ không phải 100 câu là của GS LVL; ông cho rằng để 99 hay hơn, còn cò khả năng phát triển hơn là để 100. Tôi thấy hay hay nên cũng chấp nhận - dân gian vẫn cho số 10 là “số tịt” mà!); và tít phụ của cuốn sách sẽ là “99 câu hỏi về lịch sử VN”.
Sau khi tác giả chỉnh lý, bổ sung thì Tú Anh (là người phụ trách mục GS LVL trả lời) xem và biên tập thêm nếu cần; đến lượt anh Mai đọc toàn bộ rồi cuối cùng mới đến tôi. Sĩ Lâm thì lo khâu tập hợp bài từ các files có sẵn trong máy tính, sửa chữa và trình bày cả cuốn sách; Thuê họa sĩ Quỳnh Mây trình bày bìa. Với cách làm và quy trình như thế, công sức bỏ ra chỉ là rất ít so với việc nếu làm sách bự cùng NXB VHTT.
Về giá in, do tôi đã nắm được giá in cuốn sách của ông Đặng Mộng Lân như đã nói trên nên khi tôi cùng chị Vụ đến Xí nghiệp in Văn hóa phẩm đàm phán không bị bỡ ngỡ nữa. Tuy nhiên, vẫn bị họ tính đắt hơn một chút so với sách của ông Lân (sách ông Lân rẻ hơn vì NXB KHKT là khách quen thường xuyên của họ). Tính ra, giá giấy và công in cho cuốn sách ấy mà chúng tôi đàm phán được không đâu rẻ bằng (trong quá trình làm, do các tình huống phức tạp phát sinh, tôi phải cử Quy và bản thân tôi cũng hỏi giá in ở một số nơi khác nữa đều bị đòi cao hơn).
Khi tập hợp số lượng các nguồn đặt mua để in thì tổng cộng được khoảng gần 4000 cuốn. Thế là tôi ung dung in 5100 cuốn.
Trong khi đi vận động phát hành, Trần Văn Lương có báo cáo rằng có một nhà sách nhận phát hành với số lượng lớn, nhưng họ đòi được độc quyền phát hành. Phương án ấy không chấp nhận được vì chúng tôi đã thông báo rộng rãi từ tháng 4/2004, và bạn đọc đã đăng ký qua các bưu điện rồi. Hơn nữa, phát hành qua Bưu điện, chúng tôi chỉ mất 22% phí phát hành, trong khi nhà sách kia đòi độc quyền cũng phải mất cho họ tới 30% (thực tế phát hành phí của sách theo thị trường lúc này thường từ 30 - 50% giá bìa!).
Sau khi xuất bản sách được ít lâu, tôi được NXB VHTT mời dự họp báo về việc xuất bản ba tập sách Bộ thông sử thế giới vạn năm. Tại đó, tôi được biết hình thức xuất bản của họ là họ làm nội dung, còn vốn liếng bỏ ra in sách và phát hành là do Nhà sách Thắng Nguyên đảm trách. Cách làm sách này tôi mới được biết.
Về Tòa soạn, tôi hỏi lại Lương về NXB đã từng đòi độc quyền phát hành cuốn LSVN của ta là ai, Lương trả lời: Nhà sách của chị Nguyên. Xác định đúng là Nhà sách đó, mấy hôm sau tôi lẳng lặng đi tìm Nhà sách Thắng Nguyên.
Tôi đặt vấn đề với họ là sẽ in nối bản cuốn LSVN- H&Đ và giao họ độc quyền phát hành đợt in thứ hai này. Thấy sách bán chạy, họ đồng ý nhưng đòi 45% phí phát hành (mặc dù trước chỉ đòi 30%!). Mặc cả mãi, tôi chấp nhận chi 40% theo phương thức mua đứt bán đoạn, chúng tôi giao sách, còn họ trả tiền ngay cho toàn bộ số sách họ đặt là 5000 cuốn.
Tôi về thông báo ngay cho chị Vụ để tiến hành xin phép in nối bản và làm hợp đồng với Thắng Nguyên. Lần này chúng tôi in 5500 cuốn, bán luôn 5000 cuốn, còn 500 cuốn để lại cho Tòa soạn.
Thế là tổng số in của cuốn sách LSVN -H&Đ là 10600 cuốn, trong đó bán hết 9000 cuốn, còn lại chúng tôi không có chủ trương bán mà để biếu và làm quà tặng bạn đọc lai rai cả thời gian sau. Tôi cũng không quên biếu tác giả thêm 50 cuốn nữa.
Con số hơn 1 vạn cuốn là một kỷ lục làm sách thời kỳ này, là một việc tôi và cả Tòa soạn rất tự hào; riêng tôi, còn ngầm hãnh diện vì nó trùng hợp với con số dự định của tôi ngay từ lúc ban đầu là in 10 000 cuốn.
Nhờ có việc phát hành sách như vậy, chúng tôi không những có tiền trang trải cho lễ kỷ niệm 45 năm mà còn có lãi, lại được thêm danh tiếng vì làm được một cuốn sách có ích cho đông đảo người đọc, nhất là sau đó đến kỳ thi đại học báo chí kêu ầm lên là học sinh Việt Nam kém môn Lịch sử quá!
(Lần sau: Cú sốc lớn: KN bị bắt!)
9 thg 11, 2007
Ô tô xịn (Hồi ký- Kỳ 17)
Thêm Chuyên đề, tăng kỳ và mua ô tô xịn (Hồi ký- Kỳ 17)
Xuất bản Chuyên đề Dân tộc thiểu số và miền núi
Năm 1998, một hôm tôi nhận được cú điện thoại từ Văn phòng Chính phủ. Đầu dây bên kia là ông Lê Mạnh Bỉnh- Vụ phó (sau này là Vụ trưởng) Vụ Văn xã. Ông Bỉnh nói có ý định để Báo Khoa học và Đời sống tham gia chương trình thử nghiệm phục vụ đồng bào các xã đặc biệt khó khăn. Tôi mừng rơn. Thế là chúng tôi bắt đầu được tham gia vào một chương trình của Nhà nước- chương trình 135; cho dù mở đầu được cấp một kinh phí rất nhỏ nhưng là sự đánh giá của các cấp quản lý về chất lượng của tờ báo chúng tôi, là một tấm giấy chứng nhận- giấy thông hành để đi tiếp tới những chân trời xa hơn. Cùng với KH&ĐS cò có 4 tờ báo nữa là Nông nghiệp VN, Nông thôn ngày nay, Văn hóa và Kinh tế VAC.
Trước hết, chúng tôi được ra thử chuyên trang DTTS&MN trên báo chính, mỗi tuần một trang, và Nhà nước thông qua Ủy ban Dân tộc và Miền núi mua của chúng tôi hơn 1800 tờ báo mỗi kỳ để cấp không thu tiền cho các xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135. Riêng báo Văn hóa thì ngay từ đầu đã phải ra một tờ chuyên đề riêng.
Ra chuyên trang như vậy được ba năm thì có nhiều ý kiến cho rằng các báo cần phải ra hẳn một tờ chuyên đề riêng cho đồng bào mới phù hợp với trình độ người đọc.
Chúng tôi- những người làm báo - thì chỉ muốn giữ chuyên trang vì cho rằng muốn xóa khoảng cách giữa miền xuôi với miền ngược thì phải để đồng bào được tiếp cận với những vấn đề chung; vả lại nếu ra riêng một tờ nữa mà số lượng Nhà nước mua chỉ là vài ba ngàn số mỗi kỳ thì phí quá, trong khi các Tòa soạn lại phải tố chức một bộ máy để làm, không phải đơn giản.
Tranh luận mãi nhưng chẳng được như ý muốn của các tòa soạn báo, vì ý trên đã quyết rồi, chúng tôi đành phải chấp nhận. Phải lo khá nhiều vấn đề: xác định số trang, cỡ chữ, số trang màu, trang đen trắng, loại giấy, giá thành,…Một cuộc họp liên tịch giữa đại diện 7 tờ báo làm chuyên đề với đại diện Bộ Văn hóa thông tin, Ủy Ban Dân tộc và Miền núi, Ban Vật giá Chính phủ đã thống nhất được về các vấn đề nêu trên; cụ thể tờ chuyên đề của mỗi tờ báo sẽ là:
- Khuôn khổ: A4, 20 trang gồm 4 trang bìa bằng giấy couche và 16 trang ruột bằng giấy Tân Mai loại khá (độ trắng 70)
- 1/2 số trang in 4 màu, còn lại in đen- trắng
- Co chữ 14 (là cỡ chữ to; báo in bình thường chỉ sử dụng co 9 hoặc 10; một số báo còn để chữ nhỏ hơn, nhưng như thế người đọc bị nhức mắt)
- Giá thành cho phép là 4530 đ/cuốn, trong đó phí phát hành chiếm 22% được chuyển trực tiếp cho Công ty phát hành báo chí trung ương, còn lại chuyển cho các tòa soạn để xuất bản chuyên đề.
Tôi muốn nêu chi tiết như trên để bạn đọc có thể thấy rằng: khi vào việc cụ thể cần tiêu đến đồng tiền của Nhà nước thì không có chuyện đại khái được.
Sau khi đã thống nhất được các vấn đề chi tiết cụ thể như thế, Quyết định số 1637 của Chính phủ mới được ký cho các báo thực hiện. Quyết định ký này 31/12/2001- là ngày cuối năm dương lịch, Tết cũng lại sầm sập đến nên chúng tôi phải “vắt chân lên cổ mà chạy” thì mới ra kịp các số chuyên đề gửi đi cho các nơi.
Bàn kỹ trong Tòa soạn, chúng tôi quyết định: không thành lập Ban chuyên đề riêng (vì chẳng lấy đâu ra người), mà tất cả phóng viên sẽ đóng góp bài; cử Sĩ Lâm chuyên trách khâu tập hợp bài, biên tập như thư ký tòa soạn, trình bày như họa sĩ rồi chuyển anh Mai xử lý tiếp cả hai khâu biên tập và thư ký tòa soạn, sau đó chuyển tôi duyệt cuối cùng rồi mới in can chuyển nhà in.
Với dây chuyền như thế, trước Tết năm ấy chúng tôi đã lo được đủ 7 kỳ chuyên đề gửi đi cho các xã 135. Và mãi những năm sau cũng vẫn giữ cách làm như thế, vừa gọn nhẹ lại vừa hiệu quả. Tất nhiên tôi phải xử lý cả vấn đề cơ chế phân phối thu nhập nữa thì mới giữ được động lực làm việc của anh chị em.
Xin ý kiến quân sư và báo chính ra đều kỳ hai lần/ tuần
Sau khi lo ổn thỏa chuyên đề DTTS&MN, chúng tôi tiếp tục nghĩ đến viêc không thể để tờ báo chính ra kiểu “xôi đỗ” mãi được. Anh Mai giục tôi, bên Công ty phát hành cũng góp ý thường xuyên rằng nên tăng đều kỳ. Chúng tôi họp bàn và quyết định phải bắt đầu việc đó. Một mặt, phải chuẩn bị nội lực của chính mình. Đó là nghĩ trang mục cụ thể cho diện mạo mới của tờ báo, phân công phóng viên tìm hiểu chuẩn bị kỹ cho phần tin bài mình sẽ phụ trách, lên quy trình cho tất cả các khâu công việc liên quan đến tin bài, chuẩn bị máy móc và quản lý mạng LAN sao cho ăn nhập nhịp làm việc giữa các phóng viên với Ban Thư ký tòa soạn…Mặt khác, chúng tôi dứt khoát phải hỏi ý kiến bạn đọc và cộng tác viên. Anh Mai rất thạo việc này nên xung phong thảo thư mời bạn đọc và bạn cộng tác cho ý kiến về việc Khoa học và Đời sống tăng kỳ. Anh gọi họ là Quân sư, được mọi người trong Tòa soạn chấp nhận. Thế là chúng tôi đăng Báo ý định tăng kỳ, mời các Quân sư góp ý kiến; ý kiến hay, có giá trị sẽ được Tòa soạn ghi nhận bằng một giải thưởng nho nhỏ.
Nghe lời kêu gọi, các Quân sư nhộn nhịp hưởng ứng. Sự nhiệt thành, chân tình và thông thái của họ làm chúng tôi rất sung sướng, xúc động và thấy thực sự mình có một chỗ dựa thật vững chắc. Rất may, nhiều ý kiến của Quân sư trùng hợp với những suy tính của chúng tôi, làm chúng tôi càng tin chắc vào con đường của mình.
Tập hợp các ý kiến của Quân sư và của nội bộ anh chị em trong Tòa soạn, chúng tôi xác định được mô hình của tờ báo khi tăng đều hai kỳ/tuần: Số ra ngày Thứ Hai sẽ nặng về khoa học tự nhiên và công nghệ hơn, số ra ngày Thứ Sáu sẽ thêm phần khoa học xã hội và văn hóa- văn nghệ. Nhưng cả hai kỳ báo sẽ vẫn giữ đường lối chủ đạo là phổ biến kiến thức, tuy sẽ phải cập nhật hơn, phải sống động hơn.
Tháng 7/2002, sau bốn tháng tích cực chuẩn bị, báo chính KH&ĐS ra đều hai kỳ/ tuần, đựoc bạn đọc và bạn cộng tác ngợi khen, cả Tòa soạn phấn khởi mặc dù nhịp độ làm việc phải tăng lên rất nhiều trong khi nhân lực không hề tăng.
Lần đầu tiên Báo có một ô tô xịn
Sau khi đoàn của Báo thuê xe đi Lạng Sơn mà bị tai nạn năm 2001(như đã nói trong entry “Lún đốt sống”), tôi tự nhủ: phải tìm cách để Tòa soạn có được một chiếc ô tô. Rồi tôi phát hiện được một việc quan trọng. Đó là Nhà nước đã có văn bản cho phép các tòa soạn báo in được nhận lại thuế lợi tức và thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp ngân sách từ năm 1998 để mua sắm thiết bị hoặc xây dựng cơ bản. Nghị định và thông tư hướng dẫn liên quan đã có từ năm 1999 nhưng do quá bận nên tôi không trực tiếp theo dõi công báo đều đặn được nên không biết.
Biết được việc đó, tôi nói chị Vụ và Quy xem lại số thuế đã nộp ngân sách là bao nhiêu. Chỉ tính từ năm 1998 đến năm 2001, con số đó là gần 400 triệu đồng. Số tiền đó đủ mua được một ô tô mới. Tôi nói với chị Vụ là sẽ mua ô tô cho Tòa soạn. Vụ phát hoảng, bảo tôi rằng khó lắm, làm sao mà lấy tiền ra khỏi ngân sách Nhà nước được! Nhưng tôi nhất quyết, khó cũng phải làm bằng được. Một tờ báo tồn tại đã hơn bốn mươi năm, có ích cho người dân, có uy tín trong xã hội, thế mà chẳng có nổi lấy một chiếc ô tô cho cán bộ phóng viên đi công tác thì buồn quá, trong khi một tạp chí mới tinh, ra mỗi tháng một kỳ nhưng nếu trực thuộc một bộ mạnh thì có ngay ít nhất cũng một chiếc xe con bốn chỗ ngồi. Còn với Báo KH&ĐS, trước tới nay chỉ có được một chiếc xe uoat thanh lý, tã quá nên đã phải bán đi từ cách đây khoảng hơn chục năm.
Tôi bắt đầu lục lọi, hỏi han và đi xin các văn bản để biết thủ tục phải làm những gì, phải qua những “cửa” nào…Các loại tờ trình, công văn được soạn thảo, các mối liên hệ được thiết lập... Anh Toán ở VP LHH bày cho tôi cách viết dự án ra sao, anh Khanh- Chánh VP LHH cho biết phải liên hệ với chị Lý ở Bộ tài chính; sếp Liêm, sếp Hoàng kịp thời ký cho các công văn cần thiết. Tóm lại, Phía Văn phòng và lãnh đạo LHH ủng hộ nhiệt tình, còn tôi thì tích cực và khẩn trương, một mặt lo thủ tục, một mặt tiếp các nhân viên marketting của các hãng Toyota, Missubisi…(không hiểu sao họ nhạy bén thế, biết ngay là chúng tôi đang chuẩn bị mua ô tô!).
Không thể nói hết được những khó khăn đã gặp phải như thế nào vì nhiều quá, mà chúng tôi thì lại chỉ có “tay không bắt ô tô”, trong khi tiền thuế là của mình góp vào Nhà nước, nay Nhà nước cho lấy ra. Chỉ biết rằng đến khoảng tháng 7/2001 thì hoàn tất được gần hết các loại thủ tục, và lúc này số tiền chính thức còn được lấy lại chỉ là hơn 190 triệu đồng- đủ mua hơn một nửa chiếc ô tô! Chỉ còn ít thế bởi vì trong số thuế đã nộp có một khoản lớn là thuế của năm 1997 nên cho dù được nộp trong năm 1998 vẫn không được tính để trả về cho Tòa soạn. Chị Lý hỏi tôi có tiếp tục mua ô tô không?
Tôi lại mời Vụ và Quy họp, cùng xem xét lại các bản quyết toán tài chính. Sau khi tôi hiểu rõ các nguồn tiền hiện có của Tòa soạn, chúng tôi thống nhất ý kiến: vẫn quyết tâm mua ô tô; sẽ lấy khoảng 170 triệu từ quỹ phát triển sản xuất, sau này hằng năm được khấu hao sẽ trả dần vào đó.
Tôi trả lời chị Lý rằng vẫn theo đuổi ô tô. Bộ Tài chính yêu cầu làm nốt khâu cuối cùng là Báo phải đề nghị Kho bạc TP Hà Nội xác nhận việc đã nộp số thuế đó. Lúc này tôi không trực tiếp nữa mà giao cho Quy và Vụ lo tiếp, còn tôi phải giữ “suất” xe đã đăng ký với hãng Toyota Giải phóng và tìm người để ký hợp đồng làm lái xe cho Tòa soạn. Nói phải giữ “suất” vì lúc này đã gần cuối năm, bỗng dưng thị trường lên cơn sốt xe ô tô, không giữ thì khó mà mua được, nhất là lại mua ô tô màu xanh theo ý muốn vì màu xanh là màu được thị trường ưa chuộng nên hiếm (thị trường của chúng ta có những cái kỳ cục như thế đấy; phải chấp nhận thôi).
Quy đến Kho bạc, được nhân viên Kho bạc trả lời là toàn bộ chứng từ để ở bên Sóc Sơn; khi nào họ có thời gian thì họ sẽ gọi điện thoại và Báo KH&ĐS phải cho ô tô đến chở họ đi Sóc Sơn mới lục lấy chứng từ để xác minh được (!). Chị Vụ trực tiếp nói chuyện với trưởng phòng của cô nhân viên ấy, câu trả lời cũng vẫn như vậy. Chúng tôi biết ngay là đang bị làm khó đây; nhưng tôi nói cứ chờ xem sao; mấy chục năm không có ô tô vẫn chịu được thì bây giờ chờ thêm ít nữa chẳng hề hấn gì, lại được mục sở thị chuyện gây khó ra sao!
Một tháng, hai tháng, ba tháng trôi qua không có tăm hơi gì. Đến tháng thứ tư, tôi gọi điện thoại cho giám đốc Kho bạc Hà Nội là ông Nguyễn Thế Lâm, nói rõ toàn bộ sự việc. Ông giám đốc nghe xong nói: “ Chị trao đổi với chị Hương là Phó giám đốc, chị ấy sẽ giải quyết ngay cho chị. Nếu có khó khăn, chị liên lạc lại với tôi.” Chị Hương Phó giám đốc sau khi nghe hết câu chuyện hứa với tôi rằng trong vài ngày tới sẽ xong việc này. Hôm sau, cả Quy, Vụ và tôi đều nhận được điện thoại của cô nhân viên kia, lời lẽ rất mềm mỏng, cáo lỗi vì đang bị ốm nên chưa thể đi Sóc Sơn ngay được nhưng sẽ làm ngay sau khi hết nghỉ ốm.
Năm ngày sau, chúng tôi nhận được xác minh của Kho bạc HN, chuyển giấy xác minh đó cho chị Lý và số tiền hơn 190 triệu đồng được Bộ Tài chính chuyển vào tài khoản của Báo KH&ĐS để mua xe ô tô.
Tôi cũng tiến hành ngay việc tuyển lái xe, đã tuyển được một người lái xe chỉn chu và giỏi nghề là Lê Thành. Trước Tết 2002 khoảng một tháng, Báo nhận chiếc xe Zace Toyota 8 chỗ ngồi mới tinh, màu xanh.
Nó trở thành niềm vui và niềm tự hào của chúng tôi, là con ngựa trung thành chở chúng tôi đi khắp các nơi, không phải lệ thuộc vào ai nữa.
(Kỳ sau: 99 câu Hỏi- Đáp về Lịch sử Việt Nam)
Xuất bản Chuyên đề Dân tộc thiểu số và miền núi
Năm 1998, một hôm tôi nhận được cú điện thoại từ Văn phòng Chính phủ. Đầu dây bên kia là ông Lê Mạnh Bỉnh- Vụ phó (sau này là Vụ trưởng) Vụ Văn xã. Ông Bỉnh nói có ý định để Báo Khoa học và Đời sống tham gia chương trình thử nghiệm phục vụ đồng bào các xã đặc biệt khó khăn. Tôi mừng rơn. Thế là chúng tôi bắt đầu được tham gia vào một chương trình của Nhà nước- chương trình 135; cho dù mở đầu được cấp một kinh phí rất nhỏ nhưng là sự đánh giá của các cấp quản lý về chất lượng của tờ báo chúng tôi, là một tấm giấy chứng nhận- giấy thông hành để đi tiếp tới những chân trời xa hơn. Cùng với KH&ĐS cò có 4 tờ báo nữa là Nông nghiệp VN, Nông thôn ngày nay, Văn hóa và Kinh tế VAC.
Trước hết, chúng tôi được ra thử chuyên trang DTTS&MN trên báo chính, mỗi tuần một trang, và Nhà nước thông qua Ủy ban Dân tộc và Miền núi mua của chúng tôi hơn 1800 tờ báo mỗi kỳ để cấp không thu tiền cho các xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135. Riêng báo Văn hóa thì ngay từ đầu đã phải ra một tờ chuyên đề riêng.
Ra chuyên trang như vậy được ba năm thì có nhiều ý kiến cho rằng các báo cần phải ra hẳn một tờ chuyên đề riêng cho đồng bào mới phù hợp với trình độ người đọc.
Chúng tôi- những người làm báo - thì chỉ muốn giữ chuyên trang vì cho rằng muốn xóa khoảng cách giữa miền xuôi với miền ngược thì phải để đồng bào được tiếp cận với những vấn đề chung; vả lại nếu ra riêng một tờ nữa mà số lượng Nhà nước mua chỉ là vài ba ngàn số mỗi kỳ thì phí quá, trong khi các Tòa soạn lại phải tố chức một bộ máy để làm, không phải đơn giản.
Tranh luận mãi nhưng chẳng được như ý muốn của các tòa soạn báo, vì ý trên đã quyết rồi, chúng tôi đành phải chấp nhận. Phải lo khá nhiều vấn đề: xác định số trang, cỡ chữ, số trang màu, trang đen trắng, loại giấy, giá thành,…Một cuộc họp liên tịch giữa đại diện 7 tờ báo làm chuyên đề với đại diện Bộ Văn hóa thông tin, Ủy Ban Dân tộc và Miền núi, Ban Vật giá Chính phủ đã thống nhất được về các vấn đề nêu trên; cụ thể tờ chuyên đề của mỗi tờ báo sẽ là:
- Khuôn khổ: A4, 20 trang gồm 4 trang bìa bằng giấy couche và 16 trang ruột bằng giấy Tân Mai loại khá (độ trắng 70)
- 1/2 số trang in 4 màu, còn lại in đen- trắng
- Co chữ 14 (là cỡ chữ to; báo in bình thường chỉ sử dụng co 9 hoặc 10; một số báo còn để chữ nhỏ hơn, nhưng như thế người đọc bị nhức mắt)
- Giá thành cho phép là 4530 đ/cuốn, trong đó phí phát hành chiếm 22% được chuyển trực tiếp cho Công ty phát hành báo chí trung ương, còn lại chuyển cho các tòa soạn để xuất bản chuyên đề.
Tôi muốn nêu chi tiết như trên để bạn đọc có thể thấy rằng: khi vào việc cụ thể cần tiêu đến đồng tiền của Nhà nước thì không có chuyện đại khái được.
Sau khi đã thống nhất được các vấn đề chi tiết cụ thể như thế, Quyết định số 1637 của Chính phủ mới được ký cho các báo thực hiện. Quyết định ký này 31/12/2001- là ngày cuối năm dương lịch, Tết cũng lại sầm sập đến nên chúng tôi phải “vắt chân lên cổ mà chạy” thì mới ra kịp các số chuyên đề gửi đi cho các nơi.
Bàn kỹ trong Tòa soạn, chúng tôi quyết định: không thành lập Ban chuyên đề riêng (vì chẳng lấy đâu ra người), mà tất cả phóng viên sẽ đóng góp bài; cử Sĩ Lâm chuyên trách khâu tập hợp bài, biên tập như thư ký tòa soạn, trình bày như họa sĩ rồi chuyển anh Mai xử lý tiếp cả hai khâu biên tập và thư ký tòa soạn, sau đó chuyển tôi duyệt cuối cùng rồi mới in can chuyển nhà in.
Với dây chuyền như thế, trước Tết năm ấy chúng tôi đã lo được đủ 7 kỳ chuyên đề gửi đi cho các xã 135. Và mãi những năm sau cũng vẫn giữ cách làm như thế, vừa gọn nhẹ lại vừa hiệu quả. Tất nhiên tôi phải xử lý cả vấn đề cơ chế phân phối thu nhập nữa thì mới giữ được động lực làm việc của anh chị em.
Xin ý kiến quân sư và báo chính ra đều kỳ hai lần/ tuần
Sau khi lo ổn thỏa chuyên đề DTTS&MN, chúng tôi tiếp tục nghĩ đến viêc không thể để tờ báo chính ra kiểu “xôi đỗ” mãi được. Anh Mai giục tôi, bên Công ty phát hành cũng góp ý thường xuyên rằng nên tăng đều kỳ. Chúng tôi họp bàn và quyết định phải bắt đầu việc đó. Một mặt, phải chuẩn bị nội lực của chính mình. Đó là nghĩ trang mục cụ thể cho diện mạo mới của tờ báo, phân công phóng viên tìm hiểu chuẩn bị kỹ cho phần tin bài mình sẽ phụ trách, lên quy trình cho tất cả các khâu công việc liên quan đến tin bài, chuẩn bị máy móc và quản lý mạng LAN sao cho ăn nhập nhịp làm việc giữa các phóng viên với Ban Thư ký tòa soạn…Mặt khác, chúng tôi dứt khoát phải hỏi ý kiến bạn đọc và cộng tác viên. Anh Mai rất thạo việc này nên xung phong thảo thư mời bạn đọc và bạn cộng tác cho ý kiến về việc Khoa học và Đời sống tăng kỳ. Anh gọi họ là Quân sư, được mọi người trong Tòa soạn chấp nhận. Thế là chúng tôi đăng Báo ý định tăng kỳ, mời các Quân sư góp ý kiến; ý kiến hay, có giá trị sẽ được Tòa soạn ghi nhận bằng một giải thưởng nho nhỏ.
Nghe lời kêu gọi, các Quân sư nhộn nhịp hưởng ứng. Sự nhiệt thành, chân tình và thông thái của họ làm chúng tôi rất sung sướng, xúc động và thấy thực sự mình có một chỗ dựa thật vững chắc. Rất may, nhiều ý kiến của Quân sư trùng hợp với những suy tính của chúng tôi, làm chúng tôi càng tin chắc vào con đường của mình.
Tập hợp các ý kiến của Quân sư và của nội bộ anh chị em trong Tòa soạn, chúng tôi xác định được mô hình của tờ báo khi tăng đều hai kỳ/tuần: Số ra ngày Thứ Hai sẽ nặng về khoa học tự nhiên và công nghệ hơn, số ra ngày Thứ Sáu sẽ thêm phần khoa học xã hội và văn hóa- văn nghệ. Nhưng cả hai kỳ báo sẽ vẫn giữ đường lối chủ đạo là phổ biến kiến thức, tuy sẽ phải cập nhật hơn, phải sống động hơn.
Tháng 7/2002, sau bốn tháng tích cực chuẩn bị, báo chính KH&ĐS ra đều hai kỳ/ tuần, đựoc bạn đọc và bạn cộng tác ngợi khen, cả Tòa soạn phấn khởi mặc dù nhịp độ làm việc phải tăng lên rất nhiều trong khi nhân lực không hề tăng.
Lần đầu tiên Báo có một ô tô xịn
Sau khi đoàn của Báo thuê xe đi Lạng Sơn mà bị tai nạn năm 2001(như đã nói trong entry “Lún đốt sống”), tôi tự nhủ: phải tìm cách để Tòa soạn có được một chiếc ô tô. Rồi tôi phát hiện được một việc quan trọng. Đó là Nhà nước đã có văn bản cho phép các tòa soạn báo in được nhận lại thuế lợi tức và thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp ngân sách từ năm 1998 để mua sắm thiết bị hoặc xây dựng cơ bản. Nghị định và thông tư hướng dẫn liên quan đã có từ năm 1999 nhưng do quá bận nên tôi không trực tiếp theo dõi công báo đều đặn được nên không biết.
Biết được việc đó, tôi nói chị Vụ và Quy xem lại số thuế đã nộp ngân sách là bao nhiêu. Chỉ tính từ năm 1998 đến năm 2001, con số đó là gần 400 triệu đồng. Số tiền đó đủ mua được một ô tô mới. Tôi nói với chị Vụ là sẽ mua ô tô cho Tòa soạn. Vụ phát hoảng, bảo tôi rằng khó lắm, làm sao mà lấy tiền ra khỏi ngân sách Nhà nước được! Nhưng tôi nhất quyết, khó cũng phải làm bằng được. Một tờ báo tồn tại đã hơn bốn mươi năm, có ích cho người dân, có uy tín trong xã hội, thế mà chẳng có nổi lấy một chiếc ô tô cho cán bộ phóng viên đi công tác thì buồn quá, trong khi một tạp chí mới tinh, ra mỗi tháng một kỳ nhưng nếu trực thuộc một bộ mạnh thì có ngay ít nhất cũng một chiếc xe con bốn chỗ ngồi. Còn với Báo KH&ĐS, trước tới nay chỉ có được một chiếc xe uoat thanh lý, tã quá nên đã phải bán đi từ cách đây khoảng hơn chục năm.
Tôi bắt đầu lục lọi, hỏi han và đi xin các văn bản để biết thủ tục phải làm những gì, phải qua những “cửa” nào…Các loại tờ trình, công văn được soạn thảo, các mối liên hệ được thiết lập... Anh Toán ở VP LHH bày cho tôi cách viết dự án ra sao, anh Khanh- Chánh VP LHH cho biết phải liên hệ với chị Lý ở Bộ tài chính; sếp Liêm, sếp Hoàng kịp thời ký cho các công văn cần thiết. Tóm lại, Phía Văn phòng và lãnh đạo LHH ủng hộ nhiệt tình, còn tôi thì tích cực và khẩn trương, một mặt lo thủ tục, một mặt tiếp các nhân viên marketting của các hãng Toyota, Missubisi…(không hiểu sao họ nhạy bén thế, biết ngay là chúng tôi đang chuẩn bị mua ô tô!).
Không thể nói hết được những khó khăn đã gặp phải như thế nào vì nhiều quá, mà chúng tôi thì lại chỉ có “tay không bắt ô tô”, trong khi tiền thuế là của mình góp vào Nhà nước, nay Nhà nước cho lấy ra. Chỉ biết rằng đến khoảng tháng 7/2001 thì hoàn tất được gần hết các loại thủ tục, và lúc này số tiền chính thức còn được lấy lại chỉ là hơn 190 triệu đồng- đủ mua hơn một nửa chiếc ô tô! Chỉ còn ít thế bởi vì trong số thuế đã nộp có một khoản lớn là thuế của năm 1997 nên cho dù được nộp trong năm 1998 vẫn không được tính để trả về cho Tòa soạn. Chị Lý hỏi tôi có tiếp tục mua ô tô không?
Tôi lại mời Vụ và Quy họp, cùng xem xét lại các bản quyết toán tài chính. Sau khi tôi hiểu rõ các nguồn tiền hiện có của Tòa soạn, chúng tôi thống nhất ý kiến: vẫn quyết tâm mua ô tô; sẽ lấy khoảng 170 triệu từ quỹ phát triển sản xuất, sau này hằng năm được khấu hao sẽ trả dần vào đó.
Tôi trả lời chị Lý rằng vẫn theo đuổi ô tô. Bộ Tài chính yêu cầu làm nốt khâu cuối cùng là Báo phải đề nghị Kho bạc TP Hà Nội xác nhận việc đã nộp số thuế đó. Lúc này tôi không trực tiếp nữa mà giao cho Quy và Vụ lo tiếp, còn tôi phải giữ “suất” xe đã đăng ký với hãng Toyota Giải phóng và tìm người để ký hợp đồng làm lái xe cho Tòa soạn. Nói phải giữ “suất” vì lúc này đã gần cuối năm, bỗng dưng thị trường lên cơn sốt xe ô tô, không giữ thì khó mà mua được, nhất là lại mua ô tô màu xanh theo ý muốn vì màu xanh là màu được thị trường ưa chuộng nên hiếm (thị trường của chúng ta có những cái kỳ cục như thế đấy; phải chấp nhận thôi).
Quy đến Kho bạc, được nhân viên Kho bạc trả lời là toàn bộ chứng từ để ở bên Sóc Sơn; khi nào họ có thời gian thì họ sẽ gọi điện thoại và Báo KH&ĐS phải cho ô tô đến chở họ đi Sóc Sơn mới lục lấy chứng từ để xác minh được (!). Chị Vụ trực tiếp nói chuyện với trưởng phòng của cô nhân viên ấy, câu trả lời cũng vẫn như vậy. Chúng tôi biết ngay là đang bị làm khó đây; nhưng tôi nói cứ chờ xem sao; mấy chục năm không có ô tô vẫn chịu được thì bây giờ chờ thêm ít nữa chẳng hề hấn gì, lại được mục sở thị chuyện gây khó ra sao!
Một tháng, hai tháng, ba tháng trôi qua không có tăm hơi gì. Đến tháng thứ tư, tôi gọi điện thoại cho giám đốc Kho bạc Hà Nội là ông Nguyễn Thế Lâm, nói rõ toàn bộ sự việc. Ông giám đốc nghe xong nói: “ Chị trao đổi với chị Hương là Phó giám đốc, chị ấy sẽ giải quyết ngay cho chị. Nếu có khó khăn, chị liên lạc lại với tôi.” Chị Hương Phó giám đốc sau khi nghe hết câu chuyện hứa với tôi rằng trong vài ngày tới sẽ xong việc này. Hôm sau, cả Quy, Vụ và tôi đều nhận được điện thoại của cô nhân viên kia, lời lẽ rất mềm mỏng, cáo lỗi vì đang bị ốm nên chưa thể đi Sóc Sơn ngay được nhưng sẽ làm ngay sau khi hết nghỉ ốm.
Năm ngày sau, chúng tôi nhận được xác minh của Kho bạc HN, chuyển giấy xác minh đó cho chị Lý và số tiền hơn 190 triệu đồng được Bộ Tài chính chuyển vào tài khoản của Báo KH&ĐS để mua xe ô tô.
Tôi cũng tiến hành ngay việc tuyển lái xe, đã tuyển được một người lái xe chỉn chu và giỏi nghề là Lê Thành. Trước Tết 2002 khoảng một tháng, Báo nhận chiếc xe Zace Toyota 8 chỗ ngồi mới tinh, màu xanh.
Nó trở thành niềm vui và niềm tự hào của chúng tôi, là con ngựa trung thành chở chúng tôi đi khắp các nơi, không phải lệ thuộc vào ai nữa.
(Kỳ sau: 99 câu Hỏi- Đáp về Lịch sử Việt Nam)
7 thg 11, 2007
Doanh nghiệp hay là gì?(Hồi ký- Kỳ 16)
Chương 6: NHỮNG BƯỚC TIẾN VƯỢT BẬC CỦA TỜ BÁO (Hồi ký- Kỳ 16)
Doanh nghiệp hay là gì?
Ngay từ năm đầu mới nhận phụ trách Báo, tôi đã luôn băn khoăn: trong hệ thống tài chính ở nước ta thì các cơ quan báo chí thuộc thể loại gì? Cán bộ thuế thì bảo “ Báo chị ( KH&ĐS ) là doanh nghiệp”. Nhưng tôi nghĩ không phải, mặc dù chúng tôi phải đóng các sắc thuế y như doanh nghiệp: thuế môn bài ( không nhiều, mỗi năm đóng một lần khoảng mấy trăm ngàn đồng gì đó nhưng nghe cứ ngồ ngộ vì thông thường tôi chỉ nghe nói các tiểu thương ngoài chợ phải đóng thuế này; nhưng Ban Chấp hành Hội Nhà báo VN khóa VI đã đề nghị và sắc thuế này đối với báo chí một thời gian sau đã được bãi bỏ), thuế doanh thu(10% tổng doanh thu), thuế lợi tức( thời điểm năm 1997 mức thuế này là 35% lợi nhuận; lợi nhuận là số tiền còn lại sau khi lấy tổng doanh thu trừ đi tổng các chi phí trong năm; nhưng chi phí đó phải được cơ quan thuế xác nhận là chi phí hợp lý, nghĩa là chi theo đúng quy định của pháp luật, không phải cứ cần bao nhiêu chi bấynhiêu!; sau này, sắc thuế này được thay thế bằng thuế thu nhập doanh nghiệp và giảm còn 28%, rồi 25%). Tôi cho rằng báo chí, nhất là báo khoa học như chúng tôi, ở trong chế độ chính trị của nước ta thì không thể bị áp đặt là doanh nghiệp nếu bản thân Tòa soạn không muốn vì mấy lẽ:
- Báo chí là công cụ tư tưởng văn hóa của Đảng, chủ yếu làm nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, chịu sự lãnh đạo về mặt định hướng tuyên truyền, không thể đặt nhiệm vụ kinh doanh làm chính.
- Báo KH&ĐS có nhiệm vụ phổ biến kiến thức, nâng cao dân trí. Thực hiện được nhiệm vụ này đã khó (vì khoa học vốn khô khan, rất khó hấp dẫn bạn đọc như các báo chính trị xã hội), tự hạch toán được lại càng khó hơn. Như vậy không thể bắt chúng tôi có nghĩa vụ phải có lợi nhuận để nộp thuế như các doanh nghiệp được.
Không phải là doanh nghiệp, vậy chúng tôi có phải là cơ quan hành chính sự nghiệp không? Và hơn thế nữa: cán bộ, phóng viên của Báo có phải là công chức Nhà nước không? Hình như cũng không phải vì nếu là cơ quan hành chính sự nghiệp thì đâu có phải đóng thuế như thế. Và nếu là công chức Nhà nước thì theo định nghĩa của Pháp lệnh công chức, chúng tôi phải là những người được hưởng lương từ ngân sách. Còn trên thực tế, Báo chúng tôi đã phải tự hạch toán từ năm 1984, và cũng từ lâu đã phải nộp thuế giống doanh nghiệp như tôi đã nói ở trên. Tôi đem câu hỏi về việc chúng tôi có phải công chức không hỏi một luật sư quen, nhưng anh ấy bảo bây giờ đang lộ mộ lắm, đành chịu.
Khoảng giữa năm 2000, tôi vô tình có được bài báo trên tạp chí Tài chính của tác giả Trần Thị Thu Hà về việc sẽ ra đời những đơn vị sự nghiệp có thu, trong đó có các đơn vị sự nghiệp có thu tự trang trải chi phí hoạt động thường xuyên, các chế độ chính sách sẽ áp dụng cho loại hình đơn vị này. Tôi đọc kỹ và thấy mừng quá vì đây đúng là dành cho Báo mình rồi!
Vài tháng sau, ông Nguyễn Trọng Khanh, Chánh Văn phòng LHH bảo tôi rằng bà Trần Thị Thu Hà, Vụ trưởng Vụ Ngân sách Bộ Tài chính muốn đến Báo KH&ĐS tìm hiểu về tình hình tài chính của Báo. Tôi đồng ý ngay. Buổi làm việc hôm ấy ngoài bà Hà về phía Báo KH&ĐS có tôi, chị Vụ (kế toán trưởng) và Kim Quy (kế toán); phía LHH có ông Khanh và bà Huyên (kế toán trưởng), ông Đặng Danh Ánh (trưởng Ban phổ biến kiến thức LHH).
Hóa ra bà Hà chính là tác giả của bài báo nói trên. Bà ấy đang nghiên cứu về việc xây dựng cơ chế tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có thu, thực tế là đã trình Chính phủ đề án đó, nay muốn một số đơn vị thực hiện thí điểm mô hình ấy. Thực sự tôi thấy đề án ấy rất tiên tiến. Áp dụng nó, chúng tôi sẽ không còn phải băn khoăn là doanh nghiệp hay không doanh nghiệp nữa. Bà Hà hướng dẫn và tôi hứa sẽ làm ngay tờ trình về việc này.
Tháng 10/ 2000, tôi làm tờ trình lãnh đạo LHH xin cho Báo KH&ĐS áp dụng cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu tự trang trải chi phí hoạt động thường xuyên. Tôi cũng gặp trực tiếp cô Đỗ Thị Vân nói trước về việc này và giục làm quyết định cho Báo. Mấy ngày sau không thấy động tĩnh gì, tôi gọi điện thoại hỏi thì cô Vân bảo “chị cẩn thận kẻo như vậy là kéo Báo đi thụt lùi, ngay ở Báo cũng có người chưa nhất trí với việc đó”. Tôi cáu, nói với Vân rằng ở Báo KH&ĐS bây giờ tôi mới là người có tiếng nói quyết định, Vân cần làm việc chính thức với tôi chứ không phải với ai khác. Thì ra có tin đồn rằng bên Bộ Tài chính người ta không ủng hộ đề án ấy của bà Hà, nên một vài người cho rằng Báo KH&ĐS mà theo thì sợ rằng ta sẽ bị khó, thà cứ để mập mờ như bây giờ còn hơn! Tôi lại giải thích lại cho họ về lợi ích của đề án mới, khẳng định lại với Vân rằng tôi mới là người quyết định các việc ở Báo và tôi chịu trách nhiệm mọi việc do tôi điều hành, nhưng ý kiến của tôi cứ như va vào đá. Một tháng sau khi gửi tờ trình chẳng có quyết định nào được ký. Tôi gặp sếp Vũ Tuyên Hoàng, trình bày rõ vấn đề. Sếp Hoàng bảo: sự việc dễ hiểu đến thế mà sao lại chần chừ?!
Tháng 12/ 2000, cuối cùng thì chúng tôi cũng đã có được Quyết định của LHH do sếp Hoàng ký cho phép Báo KH&ĐS áp dụng cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu tự trang trải chi phí hoạt động thường xuyên.
Tháng 1/ 2001, Thủ tướng ký Nghị định số 10/2001-NĐ- CP, nội dung đúng như bài của bà Hà đã đăng trên tạp chí Tài chính. Hai tháng sau có ngay Thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định đó. Theo các văn bản này, những đơn vị báo chí đang tự hạch toán, lấy thu bù chi như chúng tôi được “cởi trói” rất nhiều: Chi tiêu được hưởng chế độ như doanh nghiệp (rộng rãi hơn so với các cơ quan hành chính hoặc đơn vị sự nghiệp khác có hưởng một phần lớn ngân sách Nhà nước chứ không tự trang trải toàn bộ chi phí hoạt động như chúng tôi); quỹ lương được tăng thêm 2,5 lần; Nếu sau khi trừ chi phí hợp lý mà còn lãi thì mới phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
Như vậy là chúng tôi sẽ không bị o ép về việc chi, cũng không bị bắt buộc phải có lãi để nộp thuế lợi tức như trước nữa. Và nếu chúng tôi kiếm ra được nhiều tiền, gấp hai gấp ba lần như hiện tại thì anh chị em sẽ được tăng thu nhập đáng kể; nếu có phải nộp thuế thì sẽ là thuế thu nhập cá nhân chứ không lo Tòa soạn phải nộp thuế khi mọi người trong cơ quan còn “đói”. Đây sẽ là động lực cho mọi người.
Tôi yêu cầu chị Vụ và Kim Quy cùng tôi nghiên cứu kỹ hai văn bản mới để chuẩn bị thực hiện. Quy nói: không ngờ lại được cởi mở đến thế, và thắc mắc không hiểu tại sao tôi lại “bắt” theo bà Hà ngay như thế? Tôi trả lời: vì thấy người ta có suy nghĩ theo chiều hướng đúng và tiến bộ thì theo thôi.
Vậy là Quy và Vụ đều đã nhận ra tính ưu việt của chính sách mới đối với Báo chúng tôi, cùng tôi lo thực hiện cho Báo. Nhờ có cơ chế tài chính mới này, thu nhập của anh chị em ở Báo tăng hẳn lên so với trước. Khi mức khởi điểm nộp thuế thu nhập cá nhân là 3triệu đồng/tháng thì gần hết mọi người trong Tòa soạn đều nằm trong danh sách nộp thuế, ngoại trừ một số người đang ở chế độ thử việc hoặc mới kết thúc thử việc là không phải đóng thuế TNCN mà thôi.
Chỉ đáng tiếc là có người được quyền tham gia quyết định các việc của Báo, có cương vị cao hẳn hoi lại không thấy được như vậy. Họ vẫn tiếp tục cho rằng bằng cách chuyển Báo là đơn vị sự nghiệp có thu tự trang trải chi phí hoạt động thường xuyên, tôi đã “đưa Báo đi thụt lùi”! Thật chán hết chỗ nói!
(Còn nữa)
Tags: hồiký Edit Tags
Wednesday November 7, 2007 - 08:27pm (ICT) Edit Delete Permanent Link 0 Comments
Doanh nghiệp hay là gì?
Ngay từ năm đầu mới nhận phụ trách Báo, tôi đã luôn băn khoăn: trong hệ thống tài chính ở nước ta thì các cơ quan báo chí thuộc thể loại gì? Cán bộ thuế thì bảo “ Báo chị ( KH&ĐS ) là doanh nghiệp”. Nhưng tôi nghĩ không phải, mặc dù chúng tôi phải đóng các sắc thuế y như doanh nghiệp: thuế môn bài ( không nhiều, mỗi năm đóng một lần khoảng mấy trăm ngàn đồng gì đó nhưng nghe cứ ngồ ngộ vì thông thường tôi chỉ nghe nói các tiểu thương ngoài chợ phải đóng thuế này; nhưng Ban Chấp hành Hội Nhà báo VN khóa VI đã đề nghị và sắc thuế này đối với báo chí một thời gian sau đã được bãi bỏ), thuế doanh thu(10% tổng doanh thu), thuế lợi tức( thời điểm năm 1997 mức thuế này là 35% lợi nhuận; lợi nhuận là số tiền còn lại sau khi lấy tổng doanh thu trừ đi tổng các chi phí trong năm; nhưng chi phí đó phải được cơ quan thuế xác nhận là chi phí hợp lý, nghĩa là chi theo đúng quy định của pháp luật, không phải cứ cần bao nhiêu chi bấynhiêu!; sau này, sắc thuế này được thay thế bằng thuế thu nhập doanh nghiệp và giảm còn 28%, rồi 25%). Tôi cho rằng báo chí, nhất là báo khoa học như chúng tôi, ở trong chế độ chính trị của nước ta thì không thể bị áp đặt là doanh nghiệp nếu bản thân Tòa soạn không muốn vì mấy lẽ:
- Báo chí là công cụ tư tưởng văn hóa của Đảng, chủ yếu làm nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, chịu sự lãnh đạo về mặt định hướng tuyên truyền, không thể đặt nhiệm vụ kinh doanh làm chính.
- Báo KH&ĐS có nhiệm vụ phổ biến kiến thức, nâng cao dân trí. Thực hiện được nhiệm vụ này đã khó (vì khoa học vốn khô khan, rất khó hấp dẫn bạn đọc như các báo chính trị xã hội), tự hạch toán được lại càng khó hơn. Như vậy không thể bắt chúng tôi có nghĩa vụ phải có lợi nhuận để nộp thuế như các doanh nghiệp được.
Không phải là doanh nghiệp, vậy chúng tôi có phải là cơ quan hành chính sự nghiệp không? Và hơn thế nữa: cán bộ, phóng viên của Báo có phải là công chức Nhà nước không? Hình như cũng không phải vì nếu là cơ quan hành chính sự nghiệp thì đâu có phải đóng thuế như thế. Và nếu là công chức Nhà nước thì theo định nghĩa của Pháp lệnh công chức, chúng tôi phải là những người được hưởng lương từ ngân sách. Còn trên thực tế, Báo chúng tôi đã phải tự hạch toán từ năm 1984, và cũng từ lâu đã phải nộp thuế giống doanh nghiệp như tôi đã nói ở trên. Tôi đem câu hỏi về việc chúng tôi có phải công chức không hỏi một luật sư quen, nhưng anh ấy bảo bây giờ đang lộ mộ lắm, đành chịu.
Khoảng giữa năm 2000, tôi vô tình có được bài báo trên tạp chí Tài chính của tác giả Trần Thị Thu Hà về việc sẽ ra đời những đơn vị sự nghiệp có thu, trong đó có các đơn vị sự nghiệp có thu tự trang trải chi phí hoạt động thường xuyên, các chế độ chính sách sẽ áp dụng cho loại hình đơn vị này. Tôi đọc kỹ và thấy mừng quá vì đây đúng là dành cho Báo mình rồi!
Vài tháng sau, ông Nguyễn Trọng Khanh, Chánh Văn phòng LHH bảo tôi rằng bà Trần Thị Thu Hà, Vụ trưởng Vụ Ngân sách Bộ Tài chính muốn đến Báo KH&ĐS tìm hiểu về tình hình tài chính của Báo. Tôi đồng ý ngay. Buổi làm việc hôm ấy ngoài bà Hà về phía Báo KH&ĐS có tôi, chị Vụ (kế toán trưởng) và Kim Quy (kế toán); phía LHH có ông Khanh và bà Huyên (kế toán trưởng), ông Đặng Danh Ánh (trưởng Ban phổ biến kiến thức LHH).
Hóa ra bà Hà chính là tác giả của bài báo nói trên. Bà ấy đang nghiên cứu về việc xây dựng cơ chế tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có thu, thực tế là đã trình Chính phủ đề án đó, nay muốn một số đơn vị thực hiện thí điểm mô hình ấy. Thực sự tôi thấy đề án ấy rất tiên tiến. Áp dụng nó, chúng tôi sẽ không còn phải băn khoăn là doanh nghiệp hay không doanh nghiệp nữa. Bà Hà hướng dẫn và tôi hứa sẽ làm ngay tờ trình về việc này.
Tháng 10/ 2000, tôi làm tờ trình lãnh đạo LHH xin cho Báo KH&ĐS áp dụng cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu tự trang trải chi phí hoạt động thường xuyên. Tôi cũng gặp trực tiếp cô Đỗ Thị Vân nói trước về việc này và giục làm quyết định cho Báo. Mấy ngày sau không thấy động tĩnh gì, tôi gọi điện thoại hỏi thì cô Vân bảo “chị cẩn thận kẻo như vậy là kéo Báo đi thụt lùi, ngay ở Báo cũng có người chưa nhất trí với việc đó”. Tôi cáu, nói với Vân rằng ở Báo KH&ĐS bây giờ tôi mới là người có tiếng nói quyết định, Vân cần làm việc chính thức với tôi chứ không phải với ai khác. Thì ra có tin đồn rằng bên Bộ Tài chính người ta không ủng hộ đề án ấy của bà Hà, nên một vài người cho rằng Báo KH&ĐS mà theo thì sợ rằng ta sẽ bị khó, thà cứ để mập mờ như bây giờ còn hơn! Tôi lại giải thích lại cho họ về lợi ích của đề án mới, khẳng định lại với Vân rằng tôi mới là người quyết định các việc ở Báo và tôi chịu trách nhiệm mọi việc do tôi điều hành, nhưng ý kiến của tôi cứ như va vào đá. Một tháng sau khi gửi tờ trình chẳng có quyết định nào được ký. Tôi gặp sếp Vũ Tuyên Hoàng, trình bày rõ vấn đề. Sếp Hoàng bảo: sự việc dễ hiểu đến thế mà sao lại chần chừ?!
Tháng 12/ 2000, cuối cùng thì chúng tôi cũng đã có được Quyết định của LHH do sếp Hoàng ký cho phép Báo KH&ĐS áp dụng cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu tự trang trải chi phí hoạt động thường xuyên.
Tháng 1/ 2001, Thủ tướng ký Nghị định số 10/2001-NĐ- CP, nội dung đúng như bài của bà Hà đã đăng trên tạp chí Tài chính. Hai tháng sau có ngay Thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định đó. Theo các văn bản này, những đơn vị báo chí đang tự hạch toán, lấy thu bù chi như chúng tôi được “cởi trói” rất nhiều: Chi tiêu được hưởng chế độ như doanh nghiệp (rộng rãi hơn so với các cơ quan hành chính hoặc đơn vị sự nghiệp khác có hưởng một phần lớn ngân sách Nhà nước chứ không tự trang trải toàn bộ chi phí hoạt động như chúng tôi); quỹ lương được tăng thêm 2,5 lần; Nếu sau khi trừ chi phí hợp lý mà còn lãi thì mới phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
Như vậy là chúng tôi sẽ không bị o ép về việc chi, cũng không bị bắt buộc phải có lãi để nộp thuế lợi tức như trước nữa. Và nếu chúng tôi kiếm ra được nhiều tiền, gấp hai gấp ba lần như hiện tại thì anh chị em sẽ được tăng thu nhập đáng kể; nếu có phải nộp thuế thì sẽ là thuế thu nhập cá nhân chứ không lo Tòa soạn phải nộp thuế khi mọi người trong cơ quan còn “đói”. Đây sẽ là động lực cho mọi người.
Tôi yêu cầu chị Vụ và Kim Quy cùng tôi nghiên cứu kỹ hai văn bản mới để chuẩn bị thực hiện. Quy nói: không ngờ lại được cởi mở đến thế, và thắc mắc không hiểu tại sao tôi lại “bắt” theo bà Hà ngay như thế? Tôi trả lời: vì thấy người ta có suy nghĩ theo chiều hướng đúng và tiến bộ thì theo thôi.
Vậy là Quy và Vụ đều đã nhận ra tính ưu việt của chính sách mới đối với Báo chúng tôi, cùng tôi lo thực hiện cho Báo. Nhờ có cơ chế tài chính mới này, thu nhập của anh chị em ở Báo tăng hẳn lên so với trước. Khi mức khởi điểm nộp thuế thu nhập cá nhân là 3triệu đồng/tháng thì gần hết mọi người trong Tòa soạn đều nằm trong danh sách nộp thuế, ngoại trừ một số người đang ở chế độ thử việc hoặc mới kết thúc thử việc là không phải đóng thuế TNCN mà thôi.
Chỉ đáng tiếc là có người được quyền tham gia quyết định các việc của Báo, có cương vị cao hẳn hoi lại không thấy được như vậy. Họ vẫn tiếp tục cho rằng bằng cách chuyển Báo là đơn vị sự nghiệp có thu tự trang trải chi phí hoạt động thường xuyên, tôi đã “đưa Báo đi thụt lùi”! Thật chán hết chỗ nói!
(Còn nữa)
Tags: hồiký Edit Tags
Wednesday November 7, 2007 - 08:27pm (ICT) Edit Delete Permanent Link 0 Comments
4 thg 11, 2007
Tìm người giỏi(Hồi ký- Kỳ 15)
Tìm người giỏi (Hồi ký- Kỳ 15)
Tôi hiểu rất rõ rằng nếu không có người đủ năng lực cùng mình làm việc thì khó lòng đẩy được tờ báo lên. Phải tìm được người giỏi chạy quảng cáo- phát hành và người giỏi làm báo phổ biến kiến thức. Những người này, nếu cùng quan điểm, cùng cách nhìn như tôi thì rất tốt, nếu không thì tôi phải cố gắng hòa nhập, thậm chí chịu đựng họ cũng được, để cùng làm việc. Suốt mấy năm trời tôi để tâm vào việc tìm người.
Trong mục “Năm ứng viên phó tổng biên tập”, tôi đã nhắc tới anh Nguyễn Như Mai. Năm 2001 anh Mai đến tuổi nghỉ hưu. Tôi lại thử hỏi xem anh có đồng ý cộng tác với tôi nữa hay không; tất nhiên giờ đây sẽ chỉ cộng tác theo dạng hợp đồng chứ không thể làm Phó TBT được nữa. Từ tháng 3/2002 anh Mai bắt đầu làm ở chỗ chúng tôi. Chỉ sau vài tháng, anh Mai đã hòa nhập được với các phóng viên trẻ và tìm được tiếng nói chung cùng tôi trong công việc ở Tòa soạn. Nhờ có anh, tôi đỡ được khá nhiều trong việc điều hành hướng dẫn PV, biên tập và tập hợp bài vở. Các vấn đề về nội dung, về nghiệp vụ báo chí tôi cũng có thêm người để chia sẻ, bàn bạc. Tôi luôn luôn thực lòng coi trọng ý kiến của anh và cũng rất thẳng thắn nếu như có vấn đề gì trái quan điểm. Nhờ đó, đỡ được một phần gánh nặng cho tôi về khâu lo nội dung
Còn mảng quảng cáo- phát hành, tôi đã thử đủ kiểu: nào tuyển cho làm thử, nào ký hợp đồng luôn với những người đồng ý làm quảng cáo- phát hành do một ai đó giới thiệu…, nhưng vẫn không có kết quả. Trong khi các tờ báo khác doanh thu do quảng cáo mỗi năm đem lại nhiều tỉ đồng, thậm chí có nhiều tờ báo và tạp chí chỉ tồn tại được nhờ tiền bán quảng cáo, thì mảng quảng cáo của Báo KH&ĐS vẫn rất bí bét. Có những năm cả số báo Tết không có lấy một trang quảng cáo nào. Nói thế để thấy rằng làm sao mà tôi không sốt ruột cho được! Đã có nhiều người đề nghị với tôi phương án khoán gọn trang báo cho họ, họ trả cho Tòa soạn 2-3 triệu đồng/trang, còn bán được giá cao bao nhiêu thì tùy họ! Nếu chấp nhận như thế thì có lẽ KH&ĐS từ lâu cũng đã có nhiều trang quảng cáo. Nhưng tôi không chấp nhận phương án ấy bởi tính ra thì Tòa soạn chẳng được lãi bao nhiêu, mà trách nhiệm pháp nhân thì rất lớn; và cách đó là cách để cho người ngoài lợi dụng danh nghĩa tờ báo để làm ăn. Tôi không chấp nhận kiểu ấy nên KH&ĐS hầu như không có quảng cáo. Chúng tôi thì sốt ruột vì việc này, còn bạn đọc lại khen là Báo KH&ĐS không đăng nhiều quảng cáo chứng tỏ không thương mại hóa!
Tháng 9/2002, cô Kim Ngân ở Báo Thương Mại gọi ĐT cho tôi, đề nghị được nhận vào làm QC cho KH&ĐS vì theo lời Ngân thì cô ta không muốn làm bên đó nữa vì một số lý do cá nhân. Tôi có biết tiếng cô này chạy QC rất giỏi. Hỏi thêm một số người tôi quen ở các báo khác và ngay cả báo TM thì được biết cô Ngân không hay dây dưa chuyện tiền nong, nghĩa là khi đăng xong quảng cáo thì đòi được tiền về ngay cho TS (điều này khá quan trọng vì nhiều báo đăng quảng cáo rất nhiều nhưng không thu được đủ tiền, hoặc vì bên A dây dưa không trả, hoặc vì chính người làm QC giữ lại tiền bên A đã trả mà không chịu nộp cho TS). Mọi người khuyên tôi nên nhận; nếu biết sử dụng tốt thì cô ta sẽ làm việc rất hiệu quả.
Sau khi tìm hiểu, cân nhắc và bàn bạc thêm trong nội bộ, tôi quyết định nhận cô Ngân theo dạng hợp đồng không thời hạn, có quy định cụ thể về trách nhiệm, về định mức và chính sách đãi ngộ rõ ràng. Trên tinh thần lấy hiệu quả công việc làm chính để có thêm doanh thu trang trải chi phí cho Tòa soạn nên mọi người, từ tôi cho tới các phóng viên, các cán bộ trong Ban TKTS, Ban Trị sự đều có ý thức nhường nhịn và tạo điều kiện cho Ngân làm việc, mặc dù không phải ai cũng thích tính cách của Ngân.
Kể từ đó, mảng quảng cáo của KH&ĐS cải thiện hẳn; gần như số báo chính nào cũng có quảng cáo, tổng doanh thu do quảng cáo đem lại được cả tỉ đồng. Nhưng rồi Ngân làm việc ở Tòa soạn không được lâu. Tôi sẽ dành hẳn một chương khác để nói về việc đó. Còn bây giờ xin kể tiếp việc xây dựng đội ngũ với những rào cản về cơ chế, về hành chính ra sao.
Ba năm đấu tranh vì bộ khung của Báo
Theo sự phân cấp của LHH từ năm 1991 thì việc đề bạt, tăng lương cho những người cấp trưởng ban (ngang trưởng phòng) và tương đương ở các đơn vị trực thuộc đều do LHH quyết định. Cả chục năm đã trôi qua; nhiều cơ quan, đơn vị đã áp dụng những quy định mới cởi mở hơn nhiều, nhưng LHH vẫn giữ nguyên quy định cũ đối với Báo chúng tôi.
Bộ máy của Báo, như tôi đã nói, còn rất mỏng manh, đang thiếu hụt nhiều chức danh quá. Mà các phóng viên trẻ của tôi, qua một thời gian đào tạo và rèn luyện bằng thực tế đã trưởng thành lên khá nhiều, tôi phải đề bạt họ lên, nâng cao trách nhiệm của họ lên để tạo thành bộ khung cho Báo, để tôi đỡ phải lo các công việc sự vụ hằng ngày mà tập trung lo những việc lớn hơn.
Năm 2002, sau khi cân nhắc, rồi họp chi bộ, tôi đạt được ý kiến thống nhất trong nội bộ rằng sẽ tách Ban biên tập hiện có( bao gồm toàn bộ các phóng viên) thành ba ban biên tập trên cơ sở các tổ biên tập tôi đã lập ra và hoạt động tốt từ năm 1999, đồng thời đề bạt các tổ trưởng lên luôn chức vụ trưởng các ban. Tách như vậy phù hợp với việc tờ báo nay đã có nhiều ấn phẩm và ra nhiều kỳ trong tuần, không phải chỉ một tháng hai kỳ hay một tuần một kỳ như xưa nữa. Đồng thời, xin thành lập thêm Phòng quảng cáo- phát hành. Thực tế đã có rất nhiều tòa soạn báo khác tổ chức theo mô hình như vậy. Tôi làm tờ trình với nội dung như vậy gửi lãnh đạo Liên hiệp hội. Nhưng nhùng nhằng mãi, đề nghị đó vẫn không được chấp thuận.
Tháng 4/2003, Pháp lệnh công chức sửa đổi được Quốc hội thông qua có nói: các đơn vị sự nghiệp sẽ được tự chủ về tổ chức, cơ quan chủ quản chỉ bổ nhiệm và miễn nhiệm cấp trưởng và cấp phó của các đơn vị này, còn lại đều do thủ trưởng đơn vị quyết định. Đây lại là một tin vui nữa cho tôi. Pháp lệnh mới sẽ cho phép tôi thêm quyền chủ động trong việc tạo lập bộ máy cho Báo.
Tôi thầm mong các văn bản dưới luật như nghị định, thông tư, bởi có những văn bản ấy mới thực hiện được.
Tháng 12/2003, Nghị định 116/NĐ/CP được ký nhằm hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh Công chức sửa đổi; tiếp đến tháng 2/2004 Thông tư số 10 của Bộ Nội vụ ban hành hướng đẫn thực hiện Nghị định 116. Tôi làm ngay văn bản đề nghị LHH phân cấp quản lý tổ chức nhân sự cho Báo theo tinh thần các văn bản pháp lý đó. Nhưng, như mọi khi, chướng ngại lại xuất hiện…
Mấy lần hỏi cô Vân (Trưởng Ban TCCB LHH) không thấy nhúc nhích gì, tôi gặp sếp Vũ Tuyên Hoàng nêu vấn đề. Sếp Hoàng nói sẽ phân cấp sớm cho Báo vì ông hiểu chúng tôi rất cần viêc đó. Cô Vân nói đợi để làm chung cho cả Tạp chí Khoa học và Tổ quốc. Tôi liền hỏi ông Đặng Ngọc Dinh, tổng biên tập KH&TQ thì được biết Tạp chí KH&TQ chưa hề có quyết định là đơn vị sự nghiệp tự trang trải chi phí hoạt động như chúng tôi; họ cũng chẳng quan tâm là đơn vị gì vì doanh thu của họ không đáng kể, cơ quan thuế chẳng để ý đến họ làm gì. Tôi lại đem việc này báo cáo với sếp Hoàng, ông bực mình, bảo không phải đợi; nhưng người khác đâu có vội! Theo họ thì dù có áp dụng văn bản mới, thủ trưởng của Báo KH&ĐS cũng chỉ được xếp lương cho mọi người (ở Báo KH&ĐS) vào ngạch là cùng! Tôi đề nghị sếp Liêm cho họp để làm rõ cần phải hiểu các văn bản mới như thế nào và áp dụng cho Báo những gì. Sếp Liêm nói nếu trong Nghị định và Thông tư đã nói rõ rồi thì không phải họp. Tôi đề nghị tiếp: “ Nếu vậy thì xin anh cho làm văn bản phân cấp cho Báo KH&ĐS ngay chứ không nên bắt chờ Tạp chí KH&TQ”.
Hai tuần sau, tôi nhận được công văn số 400/TC- LHH ngày 10/5/2004 về việc phân cấp quản lý theo như NĐ116 ,TT10…Công văn gửi chung cho các báo chí trực thuộc Liên hiệp Hội ( thực chất cả LHH chỉ có hai tờ là Báo KH&ĐS và Tạp chí KH&TQ là trực thuộc, còn các báo chí khác là của các Hội thành viên).
Có văn bản đó, tôi nhanh chóng triển khai các bước cần thiết trong nội bộ Báo và ba tháng sau, tôi đã giải quyết được những vấn đề khá lớn cho tờ Báo:
- Tháng 8/2004, tôi ký quyết định tách Ban biên tập thành ba ban trên cơ sở 3 tổ đã có, với tên gọi như của các tổ: Ban Khoa học và Công nghệ, Ban Gia đình- Sức khỏe và Ban Kinh tế- Xã hội;
- Đề bạt Phạm Thanh làm Trưởng Ban KH&CN, Phạm Tú Anh làm Trưởng Ban Gia đình- Sức khỏe, Ninh Nhật Minh làm trưởng Ban thư ký tòa soạn, Kim Ngân làm trưởng Phòng quảng cáo- phát hành ở Hà Nội;
- Đưa Mai Nam lên làm Trưởng Ban Thường trú.
- Đối với Ban Kinh tế- Xã hội, vì Thanh Thủy chuẩn bị nghỉ sinh con nên đợi sau khi Thủy sinh xong, đi làm trở lại mới đề bạt làm Trưởng ban.
Vậy là sau 3 năm, cũng phải đợi tới khi Nhà nưới cải tiến cơ chế bằng luật thì Báo mới có được “bộ khung” khá tốt, tôi giải phóng được nhiều việc, các em được đề bạt phấn khởi làm việc hơn.
Nếu như được "cởi trói" sớm hơn (như một số đơn vị khác đã làm mà không cần dợi có NĐ116), có lẽ chúng tôi đã tiết kiệm được khá nhiều thời gian và xây dựng được đội ngũ vững mạnh hơn, làm được nhiều việc có ích hơn cho tờ Báo.
Việc đề bạt Kim Ngân làm trưởng phòng QC-PH cũng đem lại kết quả là số lượng phát hành báo quý 4/2004 tăng lên hơn 2000 tờ/ kỳ. Nhưng tôi không lường được rằng chưa kịp mừng thì tai họa ập đến ngay sau đó; ở một entry khác, tôi sẽ nói rõ hơn về cú sốc bất ngờ này.
(Kỳ sau: Doanh nghiệp hay là gì?)
Tags: hồiký Edit Tags
Sunday November 4, 2007 - 10:18am (ICT) Edit Delete Permanent Link 0 Comments
Tôi hiểu rất rõ rằng nếu không có người đủ năng lực cùng mình làm việc thì khó lòng đẩy được tờ báo lên. Phải tìm được người giỏi chạy quảng cáo- phát hành và người giỏi làm báo phổ biến kiến thức. Những người này, nếu cùng quan điểm, cùng cách nhìn như tôi thì rất tốt, nếu không thì tôi phải cố gắng hòa nhập, thậm chí chịu đựng họ cũng được, để cùng làm việc. Suốt mấy năm trời tôi để tâm vào việc tìm người.
Trong mục “Năm ứng viên phó tổng biên tập”, tôi đã nhắc tới anh Nguyễn Như Mai. Năm 2001 anh Mai đến tuổi nghỉ hưu. Tôi lại thử hỏi xem anh có đồng ý cộng tác với tôi nữa hay không; tất nhiên giờ đây sẽ chỉ cộng tác theo dạng hợp đồng chứ không thể làm Phó TBT được nữa. Từ tháng 3/2002 anh Mai bắt đầu làm ở chỗ chúng tôi. Chỉ sau vài tháng, anh Mai đã hòa nhập được với các phóng viên trẻ và tìm được tiếng nói chung cùng tôi trong công việc ở Tòa soạn. Nhờ có anh, tôi đỡ được khá nhiều trong việc điều hành hướng dẫn PV, biên tập và tập hợp bài vở. Các vấn đề về nội dung, về nghiệp vụ báo chí tôi cũng có thêm người để chia sẻ, bàn bạc. Tôi luôn luôn thực lòng coi trọng ý kiến của anh và cũng rất thẳng thắn nếu như có vấn đề gì trái quan điểm. Nhờ đó, đỡ được một phần gánh nặng cho tôi về khâu lo nội dung
Còn mảng quảng cáo- phát hành, tôi đã thử đủ kiểu: nào tuyển cho làm thử, nào ký hợp đồng luôn với những người đồng ý làm quảng cáo- phát hành do một ai đó giới thiệu…, nhưng vẫn không có kết quả. Trong khi các tờ báo khác doanh thu do quảng cáo mỗi năm đem lại nhiều tỉ đồng, thậm chí có nhiều tờ báo và tạp chí chỉ tồn tại được nhờ tiền bán quảng cáo, thì mảng quảng cáo của Báo KH&ĐS vẫn rất bí bét. Có những năm cả số báo Tết không có lấy một trang quảng cáo nào. Nói thế để thấy rằng làm sao mà tôi không sốt ruột cho được! Đã có nhiều người đề nghị với tôi phương án khoán gọn trang báo cho họ, họ trả cho Tòa soạn 2-3 triệu đồng/trang, còn bán được giá cao bao nhiêu thì tùy họ! Nếu chấp nhận như thế thì có lẽ KH&ĐS từ lâu cũng đã có nhiều trang quảng cáo. Nhưng tôi không chấp nhận phương án ấy bởi tính ra thì Tòa soạn chẳng được lãi bao nhiêu, mà trách nhiệm pháp nhân thì rất lớn; và cách đó là cách để cho người ngoài lợi dụng danh nghĩa tờ báo để làm ăn. Tôi không chấp nhận kiểu ấy nên KH&ĐS hầu như không có quảng cáo. Chúng tôi thì sốt ruột vì việc này, còn bạn đọc lại khen là Báo KH&ĐS không đăng nhiều quảng cáo chứng tỏ không thương mại hóa!
Tháng 9/2002, cô Kim Ngân ở Báo Thương Mại gọi ĐT cho tôi, đề nghị được nhận vào làm QC cho KH&ĐS vì theo lời Ngân thì cô ta không muốn làm bên đó nữa vì một số lý do cá nhân. Tôi có biết tiếng cô này chạy QC rất giỏi. Hỏi thêm một số người tôi quen ở các báo khác và ngay cả báo TM thì được biết cô Ngân không hay dây dưa chuyện tiền nong, nghĩa là khi đăng xong quảng cáo thì đòi được tiền về ngay cho TS (điều này khá quan trọng vì nhiều báo đăng quảng cáo rất nhiều nhưng không thu được đủ tiền, hoặc vì bên A dây dưa không trả, hoặc vì chính người làm QC giữ lại tiền bên A đã trả mà không chịu nộp cho TS). Mọi người khuyên tôi nên nhận; nếu biết sử dụng tốt thì cô ta sẽ làm việc rất hiệu quả.
Sau khi tìm hiểu, cân nhắc và bàn bạc thêm trong nội bộ, tôi quyết định nhận cô Ngân theo dạng hợp đồng không thời hạn, có quy định cụ thể về trách nhiệm, về định mức và chính sách đãi ngộ rõ ràng. Trên tinh thần lấy hiệu quả công việc làm chính để có thêm doanh thu trang trải chi phí cho Tòa soạn nên mọi người, từ tôi cho tới các phóng viên, các cán bộ trong Ban TKTS, Ban Trị sự đều có ý thức nhường nhịn và tạo điều kiện cho Ngân làm việc, mặc dù không phải ai cũng thích tính cách của Ngân.
Kể từ đó, mảng quảng cáo của KH&ĐS cải thiện hẳn; gần như số báo chính nào cũng có quảng cáo, tổng doanh thu do quảng cáo đem lại được cả tỉ đồng. Nhưng rồi Ngân làm việc ở Tòa soạn không được lâu. Tôi sẽ dành hẳn một chương khác để nói về việc đó. Còn bây giờ xin kể tiếp việc xây dựng đội ngũ với những rào cản về cơ chế, về hành chính ra sao.
Ba năm đấu tranh vì bộ khung của Báo
Theo sự phân cấp của LHH từ năm 1991 thì việc đề bạt, tăng lương cho những người cấp trưởng ban (ngang trưởng phòng) và tương đương ở các đơn vị trực thuộc đều do LHH quyết định. Cả chục năm đã trôi qua; nhiều cơ quan, đơn vị đã áp dụng những quy định mới cởi mở hơn nhiều, nhưng LHH vẫn giữ nguyên quy định cũ đối với Báo chúng tôi.
Bộ máy của Báo, như tôi đã nói, còn rất mỏng manh, đang thiếu hụt nhiều chức danh quá. Mà các phóng viên trẻ của tôi, qua một thời gian đào tạo và rèn luyện bằng thực tế đã trưởng thành lên khá nhiều, tôi phải đề bạt họ lên, nâng cao trách nhiệm của họ lên để tạo thành bộ khung cho Báo, để tôi đỡ phải lo các công việc sự vụ hằng ngày mà tập trung lo những việc lớn hơn.
Năm 2002, sau khi cân nhắc, rồi họp chi bộ, tôi đạt được ý kiến thống nhất trong nội bộ rằng sẽ tách Ban biên tập hiện có( bao gồm toàn bộ các phóng viên) thành ba ban biên tập trên cơ sở các tổ biên tập tôi đã lập ra và hoạt động tốt từ năm 1999, đồng thời đề bạt các tổ trưởng lên luôn chức vụ trưởng các ban. Tách như vậy phù hợp với việc tờ báo nay đã có nhiều ấn phẩm và ra nhiều kỳ trong tuần, không phải chỉ một tháng hai kỳ hay một tuần một kỳ như xưa nữa. Đồng thời, xin thành lập thêm Phòng quảng cáo- phát hành. Thực tế đã có rất nhiều tòa soạn báo khác tổ chức theo mô hình như vậy. Tôi làm tờ trình với nội dung như vậy gửi lãnh đạo Liên hiệp hội. Nhưng nhùng nhằng mãi, đề nghị đó vẫn không được chấp thuận.
Tháng 4/2003, Pháp lệnh công chức sửa đổi được Quốc hội thông qua có nói: các đơn vị sự nghiệp sẽ được tự chủ về tổ chức, cơ quan chủ quản chỉ bổ nhiệm và miễn nhiệm cấp trưởng và cấp phó của các đơn vị này, còn lại đều do thủ trưởng đơn vị quyết định. Đây lại là một tin vui nữa cho tôi. Pháp lệnh mới sẽ cho phép tôi thêm quyền chủ động trong việc tạo lập bộ máy cho Báo.
Tôi thầm mong các văn bản dưới luật như nghị định, thông tư, bởi có những văn bản ấy mới thực hiện được.
Tháng 12/2003, Nghị định 116/NĐ/CP được ký nhằm hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh Công chức sửa đổi; tiếp đến tháng 2/2004 Thông tư số 10 của Bộ Nội vụ ban hành hướng đẫn thực hiện Nghị định 116. Tôi làm ngay văn bản đề nghị LHH phân cấp quản lý tổ chức nhân sự cho Báo theo tinh thần các văn bản pháp lý đó. Nhưng, như mọi khi, chướng ngại lại xuất hiện…
Mấy lần hỏi cô Vân (Trưởng Ban TCCB LHH) không thấy nhúc nhích gì, tôi gặp sếp Vũ Tuyên Hoàng nêu vấn đề. Sếp Hoàng nói sẽ phân cấp sớm cho Báo vì ông hiểu chúng tôi rất cần viêc đó. Cô Vân nói đợi để làm chung cho cả Tạp chí Khoa học và Tổ quốc. Tôi liền hỏi ông Đặng Ngọc Dinh, tổng biên tập KH&TQ thì được biết Tạp chí KH&TQ chưa hề có quyết định là đơn vị sự nghiệp tự trang trải chi phí hoạt động như chúng tôi; họ cũng chẳng quan tâm là đơn vị gì vì doanh thu của họ không đáng kể, cơ quan thuế chẳng để ý đến họ làm gì. Tôi lại đem việc này báo cáo với sếp Hoàng, ông bực mình, bảo không phải đợi; nhưng người khác đâu có vội! Theo họ thì dù có áp dụng văn bản mới, thủ trưởng của Báo KH&ĐS cũng chỉ được xếp lương cho mọi người (ở Báo KH&ĐS) vào ngạch là cùng! Tôi đề nghị sếp Liêm cho họp để làm rõ cần phải hiểu các văn bản mới như thế nào và áp dụng cho Báo những gì. Sếp Liêm nói nếu trong Nghị định và Thông tư đã nói rõ rồi thì không phải họp. Tôi đề nghị tiếp: “ Nếu vậy thì xin anh cho làm văn bản phân cấp cho Báo KH&ĐS ngay chứ không nên bắt chờ Tạp chí KH&TQ”.
Hai tuần sau, tôi nhận được công văn số 400/TC- LHH ngày 10/5/2004 về việc phân cấp quản lý theo như NĐ116 ,TT10…Công văn gửi chung cho các báo chí trực thuộc Liên hiệp Hội ( thực chất cả LHH chỉ có hai tờ là Báo KH&ĐS và Tạp chí KH&TQ là trực thuộc, còn các báo chí khác là của các Hội thành viên).
Có văn bản đó, tôi nhanh chóng triển khai các bước cần thiết trong nội bộ Báo và ba tháng sau, tôi đã giải quyết được những vấn đề khá lớn cho tờ Báo:
- Tháng 8/2004, tôi ký quyết định tách Ban biên tập thành ba ban trên cơ sở 3 tổ đã có, với tên gọi như của các tổ: Ban Khoa học và Công nghệ, Ban Gia đình- Sức khỏe và Ban Kinh tế- Xã hội;
- Đề bạt Phạm Thanh làm Trưởng Ban KH&CN, Phạm Tú Anh làm Trưởng Ban Gia đình- Sức khỏe, Ninh Nhật Minh làm trưởng Ban thư ký tòa soạn, Kim Ngân làm trưởng Phòng quảng cáo- phát hành ở Hà Nội;
- Đưa Mai Nam lên làm Trưởng Ban Thường trú.
- Đối với Ban Kinh tế- Xã hội, vì Thanh Thủy chuẩn bị nghỉ sinh con nên đợi sau khi Thủy sinh xong, đi làm trở lại mới đề bạt làm Trưởng ban.
Vậy là sau 3 năm, cũng phải đợi tới khi Nhà nưới cải tiến cơ chế bằng luật thì Báo mới có được “bộ khung” khá tốt, tôi giải phóng được nhiều việc, các em được đề bạt phấn khởi làm việc hơn.
Nếu như được "cởi trói" sớm hơn (như một số đơn vị khác đã làm mà không cần dợi có NĐ116), có lẽ chúng tôi đã tiết kiệm được khá nhiều thời gian và xây dựng được đội ngũ vững mạnh hơn, làm được nhiều việc có ích hơn cho tờ Báo.
Việc đề bạt Kim Ngân làm trưởng phòng QC-PH cũng đem lại kết quả là số lượng phát hành báo quý 4/2004 tăng lên hơn 2000 tờ/ kỳ. Nhưng tôi không lường được rằng chưa kịp mừng thì tai họa ập đến ngay sau đó; ở một entry khác, tôi sẽ nói rõ hơn về cú sốc bất ngờ này.
(Kỳ sau: Doanh nghiệp hay là gì?)
Tags: hồiký Edit Tags
Sunday November 4, 2007 - 10:18am (ICT) Edit Delete Permanent Link 0 Comments
1 thg 11, 2007
Liên Xô trong lòng tôi
Với cô giáo Liên Xô đầu tiên
Thời chúng tôi còn trẻ, khái niệm về nước Nga trùng với khái niệm Liên Xô.
Liên Xô là bạn, Liên Xô là anh. Liên Xô là nơi có sự sung sướng. Liên Xô là nơi có sự văn minh. Liên Xô là niềm mơ ước của rất nhiều người. Nói theo cách bây giờ thì Liên Xô từng là một thương hiệu lớn. Chả thế mà người dân VN từ già đến trẻ, từ giàu đến nghèo ai ai cũng biết Liên Xô. Đến nỗi cứ thấy người to cao, mũi cao, da trắng, tóc màu là trẻ con từ thành thị đến nông thôn đều gọi “Liên Xô, Liên Xô”; bất kể đó là người nước Âu Mỹ nào.
Với tôi, Liên Xô là nơi tuổi trẻ của tôi ở đó, là nơi bắt đầu tình yêu, là nơi góp phần đáng kể nuôi dạy tôi lớn thành NGƯỜI, nơi cho tôi một thứ tiếng thứ hai ngoài tiếng mẹ đẻ- tiếng Nga- mà nhờ đó tôi được mở mang trí tuệ, nhờ đó tôi có được công cụ để kiếm sống khi gia đình nhỏ của tôi mới ở giai đoạn khởi đầu.
Quên sao được ngày đầu tiên trên đất Liên Xô cách đây 40 năm, khi con tàu liên vận chở lưu học sinh chúng tôi cắt qua biên giới Trung- Xô. Tất cả chúng tôi tò mò nhìn qua kính cửa tàu, trông thấy những người Liên Xô cao to, nhiều người bụng bự đầy kính nể, đi lại trên những con đường khu vực nhà ga biên giới, cũng to lớn khác hẳn Ga Hàng Cỏ ở Hà Nội khi đó đang trong chiến tranh…
Quên sao được những ngày tháng đầu xa nhà nhớ mẹ nhớ cha, vùi đầu vào học trên đất Liên Xô; ai cũng nghĩ phải học, phải học cho tương lai của đất nước và cho tương lai của chính mình.
Quên sao được khi vốn tiếng Nga qua 6 năm học phổ thông ở nhà, sang đây chỉ bô lô ba la được gần 1 tháng là hết vốn.
Quên sao được cô giáo Tiếng Nga đầu tiên- cô Lydya Andreevna Miskevich - Лидия Андреевна Мицкевич- nhất định không cho người phiên dịch ra tiếng Việt mà để cô tự giao tiếp với 6 học sinh Việt Nam của mình ngay từ những ngày đầu…Thầy trò nói chuyện với nhau bằng điệu bộ, bằng những cái nhíu mày, lắc đầu, gật đầu, bằng nụ cười...mà rồi dần dần hiểu hết được nhau. Chính phương pháp dạy ấy của cô giáo đã cho chúng tôi một thứ tiếng Nga ăn sâu vững chắc vào tâm trí, trở thành công cụ học tập và làm việc đắc lực.
Vân vân và vân vân….
Đặc biệt không thể quên là tuyết trắng. Cái màu trắng, cái lạnh của nó tạo cho ta nhiều cảm hứng tùy vào tâm trạng của ta ( Xem:“Trắng và trắng”- thơ Nguyễn Duy, “Phút mộng mơ”- văn vần của tôi).
Liên Xô trong lòng tôi mãi là Liên Xô. Không có Liên Xô cũ (như thuật ngữ lạ kỳ mà báo chí ta thường dùng sau khi Liên Xô tan rã năm 1991).
Tiếng Nga mãi là thứ tiếng thân thuộc thứ hai của tôi và tôi luôn cố gắng để không quên nó.
Minsk và Moskva- hai thành phố của Liên Xô đã từng cưu mang tôi- mãi là những nơi tôi luôn coi như thành phố của mình.
Kỷ niệm 90 năm Cách mạng Tháng Mười Nga năm nay tôi không còn tham gia đoàn diễu hành như thời sinh viên, không tham dự họp hành hiếu hỉ, không lo phải có đủ tin, bài cho sự kiện lớn này như khi còn là cán bộ đương chức. Tôi ngồi bên máy tính, tĩnh lặng nhớ về Liên Xô của mình bằng entry này, cũng không kém phần thú vị, vẫn đầy cảm xúc.
Mong một ngày nào đó, lý tưởng đẹp đẽ của nước Nga Xô viết, của Liên Xô sẽ sống dậy mạnh mẽ như thời Liên Xô, cho dù có thể trong một hình hài khác, một cách khác: đó là tạo lập hòa bình cho thế giới, hạnh phúc cho mỗi con người.
Trắng và trắng
Ối giời ơi...nõn nà chưa
Bột trinh bạch đấy, Trời vừa rây xong
Hình như gò trắng phập phồng
Bao nhiêu con gái ngủ trong tuyết dày
Ối giời ơi…nõn nà thay
Bình tâm bốc tuyết trên tay mà cười
Đã quen lem luốc bụi đời
Tìm trong tuyết có bụi trời li ti
Ối giời ơi…nõn nà ghê
Màu trong sạch đến khả nghi lạ thường
Cô đơn tiếng quạ nhễu buồn
Đàn chim di trú tha hương phương nào
Ối giời ơi…nõn nà sao
Bàn chân lóng ngóng đặt vào nơi đâu
Trắng tinh, trắng toát, trắng phau
Nhìn qua thấy đẹp, nhìn lâu rợn người
Buột mồm kêu ối giời ơi
Tiếng kêu chìm giữa tuyết rơi im lìm
Trắng chang chang - nhức mắt nhìn
Người đâu để vết chân in nhập nhòa
Nhập nhòa xương xẩu bao la
Mùa đông tuốt hết thịt da rừng dày
Mùa xuân biệt xứ lâu ngày
Để hàng cây bạc lông mày chờ mong
Lạnh lưng nhớ những cánh đồng
Gió mùa đông bắc thổi trong xương người.
Thơ Nguyễn Duy (Báo Văn nghệ, số 45, 5/11/1988)
--------------------------------
PHÚT MỘNG MƠ
Mình em với biển sao đêm
Trắng tinh mặt đất, trăng lên sáng ngời
Ánh trăng tô mát tình đời
Đêm xuân ấm cả lòng người hôm nay
Càng đi càng ngắm càng say
Say trăng, say tuyết, say đầy trời sao
Minsk, tháng 2/1973
(Một đêm đi học về khuya)
Tags: tảnmạn Edit Tags
Thursday November 1, 2007 - 09:55am (ICT) Edit Delete Permanent Link 0 Comments
Thời chúng tôi còn trẻ, khái niệm về nước Nga trùng với khái niệm Liên Xô.
Liên Xô là bạn, Liên Xô là anh. Liên Xô là nơi có sự sung sướng. Liên Xô là nơi có sự văn minh. Liên Xô là niềm mơ ước của rất nhiều người. Nói theo cách bây giờ thì Liên Xô từng là một thương hiệu lớn. Chả thế mà người dân VN từ già đến trẻ, từ giàu đến nghèo ai ai cũng biết Liên Xô. Đến nỗi cứ thấy người to cao, mũi cao, da trắng, tóc màu là trẻ con từ thành thị đến nông thôn đều gọi “Liên Xô, Liên Xô”; bất kể đó là người nước Âu Mỹ nào.
Với tôi, Liên Xô là nơi tuổi trẻ của tôi ở đó, là nơi bắt đầu tình yêu, là nơi góp phần đáng kể nuôi dạy tôi lớn thành NGƯỜI, nơi cho tôi một thứ tiếng thứ hai ngoài tiếng mẹ đẻ- tiếng Nga- mà nhờ đó tôi được mở mang trí tuệ, nhờ đó tôi có được công cụ để kiếm sống khi gia đình nhỏ của tôi mới ở giai đoạn khởi đầu.
Quên sao được ngày đầu tiên trên đất Liên Xô cách đây 40 năm, khi con tàu liên vận chở lưu học sinh chúng tôi cắt qua biên giới Trung- Xô. Tất cả chúng tôi tò mò nhìn qua kính cửa tàu, trông thấy những người Liên Xô cao to, nhiều người bụng bự đầy kính nể, đi lại trên những con đường khu vực nhà ga biên giới, cũng to lớn khác hẳn Ga Hàng Cỏ ở Hà Nội khi đó đang trong chiến tranh…
Quên sao được những ngày tháng đầu xa nhà nhớ mẹ nhớ cha, vùi đầu vào học trên đất Liên Xô; ai cũng nghĩ phải học, phải học cho tương lai của đất nước và cho tương lai của chính mình.
Quên sao được khi vốn tiếng Nga qua 6 năm học phổ thông ở nhà, sang đây chỉ bô lô ba la được gần 1 tháng là hết vốn.
Quên sao được cô giáo Tiếng Nga đầu tiên- cô Lydya Andreevna Miskevich - Лидия Андреевна Мицкевич- nhất định không cho người phiên dịch ra tiếng Việt mà để cô tự giao tiếp với 6 học sinh Việt Nam của mình ngay từ những ngày đầu…Thầy trò nói chuyện với nhau bằng điệu bộ, bằng những cái nhíu mày, lắc đầu, gật đầu, bằng nụ cười...mà rồi dần dần hiểu hết được nhau. Chính phương pháp dạy ấy của cô giáo đã cho chúng tôi một thứ tiếng Nga ăn sâu vững chắc vào tâm trí, trở thành công cụ học tập và làm việc đắc lực.
Vân vân và vân vân….
Đặc biệt không thể quên là tuyết trắng. Cái màu trắng, cái lạnh của nó tạo cho ta nhiều cảm hứng tùy vào tâm trạng của ta ( Xem:“Trắng và trắng”- thơ Nguyễn Duy, “Phút mộng mơ”- văn vần của tôi).
Liên Xô trong lòng tôi mãi là Liên Xô. Không có Liên Xô cũ (như thuật ngữ lạ kỳ mà báo chí ta thường dùng sau khi Liên Xô tan rã năm 1991).
Tiếng Nga mãi là thứ tiếng thân thuộc thứ hai của tôi và tôi luôn cố gắng để không quên nó.
Minsk và Moskva- hai thành phố của Liên Xô đã từng cưu mang tôi- mãi là những nơi tôi luôn coi như thành phố của mình.
Kỷ niệm 90 năm Cách mạng Tháng Mười Nga năm nay tôi không còn tham gia đoàn diễu hành như thời sinh viên, không tham dự họp hành hiếu hỉ, không lo phải có đủ tin, bài cho sự kiện lớn này như khi còn là cán bộ đương chức. Tôi ngồi bên máy tính, tĩnh lặng nhớ về Liên Xô của mình bằng entry này, cũng không kém phần thú vị, vẫn đầy cảm xúc.
Mong một ngày nào đó, lý tưởng đẹp đẽ của nước Nga Xô viết, của Liên Xô sẽ sống dậy mạnh mẽ như thời Liên Xô, cho dù có thể trong một hình hài khác, một cách khác: đó là tạo lập hòa bình cho thế giới, hạnh phúc cho mỗi con người.
Trắng và trắng
Ối giời ơi...nõn nà chưa
Bột trinh bạch đấy, Trời vừa rây xong
Hình như gò trắng phập phồng
Bao nhiêu con gái ngủ trong tuyết dày
Ối giời ơi…nõn nà thay
Bình tâm bốc tuyết trên tay mà cười
Đã quen lem luốc bụi đời
Tìm trong tuyết có bụi trời li ti
Ối giời ơi…nõn nà ghê
Màu trong sạch đến khả nghi lạ thường
Cô đơn tiếng quạ nhễu buồn
Đàn chim di trú tha hương phương nào
Ối giời ơi…nõn nà sao
Bàn chân lóng ngóng đặt vào nơi đâu
Trắng tinh, trắng toát, trắng phau
Nhìn qua thấy đẹp, nhìn lâu rợn người
Buột mồm kêu ối giời ơi
Tiếng kêu chìm giữa tuyết rơi im lìm
Trắng chang chang - nhức mắt nhìn
Người đâu để vết chân in nhập nhòa
Nhập nhòa xương xẩu bao la
Mùa đông tuốt hết thịt da rừng dày
Mùa xuân biệt xứ lâu ngày
Để hàng cây bạc lông mày chờ mong
Lạnh lưng nhớ những cánh đồng
Gió mùa đông bắc thổi trong xương người.
Thơ Nguyễn Duy (Báo Văn nghệ, số 45, 5/11/1988)
--------------------------------
PHÚT MỘNG MƠ
Mình em với biển sao đêm
Trắng tinh mặt đất, trăng lên sáng ngời
Ánh trăng tô mát tình đời
Đêm xuân ấm cả lòng người hôm nay
Càng đi càng ngắm càng say
Say trăng, say tuyết, say đầy trời sao
Minsk, tháng 2/1973
(Một đêm đi học về khuya)
Tags: tảnmạn Edit Tags
Thursday November 1, 2007 - 09:55am (ICT) Edit Delete Permanent Link 0 Comments
31 thg 10, 2007
Năm ứng viên Phó Tổng biên tập (Hồi ký- Kỳ 14)
Chương 6: XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ (Hồi ký- Kỳ 14)
Chia tổ
Đầu năm 1999 vẫn chưa thể có người làm Trưởng Ban Biên tập, là Ban gồm các phóng viên- biên tập viên, là bộ phận “ong thợ” cung cấp tin, bài cho từng kỳ báo. Cái chính là các em phóng viên đều mới ra trường, chưa đủ kinh nghiệm để có thể giao việc. Mặt khác, khi đó Liên hiệp Hội vẫn áp dụng quy định cũ đối với Báo là cấp Trưởng ban trở lên đều do LHH quyết định bổ nhiệm; mà khâu xem xét quyết định mọi việc cho Báo thường rất lâu, nhiều khi vì sự lâu la ấy mà lỡ thời cơ. Cho nên rất khó cho tôi trong tổ chức và điều hành Tòa soạn.
Tôi bèn áp dụng mô hình tổ chức từ ngày xưa: Khi tôi mới vào làm ở Báo thì không có các Ban mà có các Tổ. Thuật ngữ Tổ không có trong quy định của LHH. Và khi nói Tổ thì mặc nhiên ai cũng biết là nó nhỏ hơn Ban nên tôi quyết định dùng hình thức ấy để gây dựng dần bộ máy cho Báo, cũng là đội ngũ giúp việc cho tôi.
Tôi chọn mấy cô cậu khá nhất làm tổ trưởng: Nhật Minh làm Tổ trưởng Tổ Gia đình- Sức khỏe; Phạm Thanh làm Tổ trưởng Tổ Khoa học- Công nghệ; Thanh Thủy làm Tổ trưởng Tổ Kinh tế- Xã hội; Hà Kiệm làm Tổ trưởng Tổ PV viết (Chỉ chuyên viết, còn các tổ kia chủ yếu làm công tác tổ chức trang báo, đặt bài cộng tác viên và biên tập).
Từ mô hình tổ như thế sau này đã hình thành các ban biên tập với tên gọi đúng như vậy, và những người tôi đã chọn dần dần được bổ nhiệm Phó ban phụ trách Ban (cũng không vi phạm quy định của cơ quan chủ quản); và khi Nghị định 116 về giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp ra đời thì tôi bổ nhiệm họ làm Trưởng ban, trừ Hà Kiệm đã xin chuyển đi Báo khác từ năm 2001. Nhật Minh chuyển qua Ban Thư ký Tòa soạn, Tú Anh thay vị trí của NM ở Ban Gia đình- Sức khỏe.
Với cách đó, tôi đã đào tạo được đội ngũ mà không ai làm gì được vì tôi không vi phạm gì về các quy định về tổ chức- nhân sự do LHH đề ra.
Năm ứng viên phó tổng biên tập
Phụ trách Báo được một thời gian, tôi muốn có một phó tổng biên tâp để đỡ đần cho mình; chứ bộ máy non nớt như thế, mà tôi thì còn phải lo trăm công nghìn việc cho Tòa soạn và tờ báo của mình. Như tôi đã nói, các em PV mới, đến biên tập bài cũng còn lúng túng; tôi phải chú tâm tới cả từng con chữ, maket từng trang báo thì mới đỡ lỗi, và chất lượng tin bài mới đỡ đi xuống. Nhưng như thế thì còn đâu thời gian mà đi làm công tác ngoại giao, mà nghĩ đến những việ to tát khác cho tờ báo. Nhờ được TBT tiền nhiệm giúp cho khâu biên tập bài thì ông lại luôn nhắc tôi rằng tôi phải chịu lấy trách nhiệm đối với các bài đăng trên báo! Và phóng viên thì ỷ lại vào bác ấy, càng không chịu biên tập gì cả.
Công cuộc đi tìm cho mình một người phó cũng gian nan vất vả lắm. Tổng cộng cho đến năm 2002 tôi đã có tất cả 5 ứng viên phó tổng biên tập mà rồi chỉ được có một người được đề bạt làm Phó TBT. Tôi xin kể lần lượt về năm ứng viên ấy.
1. Nhà báo H.T.
Anh này là phóng viên Báo D. (ở đây tôi xin không ghi tên, địa chỉ thật vì lí do tế nhị), nhưng lại làm cả Giám đốc một Trung tâm của Liên hiệp hội. Sếp Vũ Tuyên Hoàng muốn giới thiệu làm ứng viên Phó TBT cho Báo KH&ĐS.
Tôi đã đến thăm nhà để làm quen và tìm hiểu thêm. Đó là một người trẻ tuổi, khá điển trai, lịch lãm theo kiểu hơi nghệ sĩ, ăn nói rất khéo nhưng có sự chân thành. Anh ta mong muốn làm những việc lớn lao như tổ chức sự kiện, tìm các nguồn tài trợ lớn cho tờ báo phát triển thì hơn là đi vào các khâu tỉ mỉ của chuyện bếp núc làm báo. Vì chí lớn như thế nên anh ta tuy vẫn đang là phóng viên một tờ báo lớn nhưng lại lập ra Trung tâm …để làm Giám đốc và có những hoạt động theo sở thích. Tôi thấy nếu sếp Hoàng quyết thì tôi cũng chấp nhận được, và có lẽ như thế thì sẽ bổ sung được những mặt còn yếu của KH&ĐS là tài trợ, quảng cáo…
Một thời gian khá lâu không thấy động tĩnh gì từ phía LHH. Tôi hỏi thì được biết phía Tổ chức LHH có ý kiến không thuận. Đành chịu.
2. Nhà báo Nguyễn Thị Chúc.
Chị Chúc là Trưởng Ban biên tập Tạp chí Khoa học và Tổ quốc- cơ quan ngôn luận của LHH, hơn tôi một tuổi. Không phải là người xuất sắc nhưng có khả năng bán quảng cáo tốt- thứ mà Báo tôi đang rất cần. Biết tôi đang cần người trợ giúp, bên KH&TQ lại đang có những vấn đề nhất định nên chị Chúc muốn chuyển qua làm Báo KH&ĐS với tôi.
Tôi đồng ý. Nhưng Liên hiệp Hội không đồng ý. Phương án ấy thế là cũng hỏng.
3. Nhà báo Nguyễn Như Mai.
Tôi biết anh Mai từ khi anh ấy còn làm Trưởng Ban biên tập của Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, cũng đóng ở 70 Trần Hưng Đạo với Báo của tôi. Anh Mai đã từng cộng tác với Báo KHTT- KH&ĐS, là người có kinh nghiệm trong việc làm báo phổ biến kiến thức. Sau anh chuyển qua Báo Hoa học trò và lúc này đang làm Trưởng Ban biên tập của tờ báo đó.
Tôi nghĩ đến anh ấy, chắc bây giờ cũng sắp nghỉ hưu rồi. Nếu về KH&ĐS thì sẽ phát huy được kinh nghiệm làm báo và kết hợp là người hiểu về khoa học kỹ thuật sẽ đỡ được cho tôi nội dung của tờ báo đẻ tôi còn lo kinh tế, lo thu nhập cho anh chị em. Rồi tôi sẽ tìm cách có thêm một Phó TBT trẻ hơn để nối tiếp khi anh Mai nghỉ hưu. Tìm gặp nói chuyện với anh, anh Mai đồng ý. Anh ấy còn cẩn thận tham khảo ý kiến vợ con và các bạn thân của anh. Cả gia đình và bạn bè anh đều ủng hộ phương án của tôi bàn với anh nên sự quyết tâm của anh càng lớn. Anh viết đơn xin chuyển về Báo KH&ĐS.
Lần này sức cản đến từ phía Báo Hoa học trò (HHT).
Tôi đang tính gặp TBT HHT để nói chuyện. Chưa kịp làm việc đó thì một buổi trưa, đúng 13h điện thoại reo. Đầu giây kia là anh Phong Doanh, Tổng biên tập Báo HHT. Anh chào tôi rồi bắt đầu to tiếng với tôi , rằng đừng có mà rủ rê anh Mai, nào là nếu anh Mai dứt khoát ra đi khỏi HHT thì anh ấy cũng sẽ dứt khoát để anh Mai ra đi tay trắng, như một kẻ đào ngũ (nghĩa là không được cấp giấy tờ hồ sơ gì hết). Tôi với anh Doanh không xa lạ gì vì vẫn gặp nhau ở các cuộc họp giao ban báo chí hàng tuần cũng như họp BCH Hội Nhà báo. Tôi nói với anh Doanh về tình hình khó khăn của tôi mong được anh thông cảm và trợ giúp, về nguyện vọng và sự phù hợp của anh Mai nếu anh Mai chuyển về KH&ĐS; nhưng anh Doanh một mực không nghe.
Thế là anh Mai không về làm phó cho tôi được nữa. Phải tới năm 2002, khi anh Mai nghỉ hưu tôi mới rủ được anh ấy về làm ở Báo, trọng dụng anh và cùng làm việc với anh tới tận tháng 10/2005. Sau khi tôi nghỉ hưu, anh Mai vẫn tiếp tục làm việc cho Báo KH&ĐS một thời gian nữa, nhưng đần dần chuyển sang vị trí khác, mang tính cộng tác nhiều hơn là một người cơ hữu của Tòa soạn.
4. Nhà báo K.T.H.
Nhân vật này khá đặc biệt (và tôi cũng xin không nêu tên thật để khỏi rắc rối cho người ta). Anh ta vốn là Tổng biên tập một Tạp chí của một doanh nghiệp lớn. Do lủng củng nội bộ, anh ta phải chuyển làm công tác thi đua của ngành.
Trong quá trình đi tìm người làm cấp phó cho mình, tôi có nhờ các anh chị quen biết trong ngành báo chí giới thiệu cho mình các ứng viên tin cậy.
Đầu năm 2000, ông Dương Quang Minh- Phó giám đốc Trung tâm Báo chí Văn phòng Chính phủ- đến Tòa soạn cùng với một người để giới thiệu ứng viên Phó TBT với tôi, chính là ông K. Chúng tôi nói chuyện với nhau, đúng ra thì chủ yếu là tôi nghe anh ta nói về bản thân. Anh ta bảo không hề có lỗi gì trong vụ scandal ở Tạp chí, quản lý tài chính bên đó minh bạch, có khả năng lôi kéo được nhiều quảng cáo…và vẫn rất muốn làm báo. Nếu tôi chấp nhận, anh ta sẽ đóng góp được nhiều cho Báo KH&ĐS. Anh ta đưa đơn xin việc cùng hồ sơ hợp lệ cho tôi. Tôi hẹn sẽ gặp lại sau rồi tranh thủ qua nhiều kênh tìm hiểu về con người này.
Những người có trách nhiệm mà tôi quen biết và tin cậy ở Bộ Vănhóa-Thông tin, Ban tư tưởng VH TƯ, Hội Nhà báo VN đều nói có thể nhận anh ta làm Phó TBT Báo KH&ĐS. Chỉ có một chị bạn tôi, cũng là nhà báo, Tổng biên tập một tờ báo khác là bảo tôi rằng họ là đàn ông mà đã từng làm cấp trưởng rồi thì chẳng nên nhận họ làm phó cho mình làm gì. Sau này tôi mới thấy lẽ ra nên nghe theo lời khuyên của chị. Nhưng lúc ấy tôi đang bí người, lại có những người như thế ủng hộ mà không xem xét thì cũng không ổn.
Tôi trao đổi với cô Vân (Trưởng Ban Tổ chức LHH)và báo cáo với sếp Hồ Uy Liêm (Tổng Thư ký LHH) về trường hợp này.
Sếp Liêm cử cô Vân đến cơ quan chủ quản của Tạp chí đó để tìm hiểu kỹ hơn. Cô Vân còn tới cả nhà anh K. để tìm hiểu gia cảnh anh ta. Cuối cùng, họ đồng ý nhận anh K. và làm công văn xin người gửi cơ quan chủ quản bên đó. Lúc đó là vào khoảng tháng 6/2000. Tháng 7 trôi qua , rồi tháng 8 đến mà tôi không thấy anh ta thông tin gì lại cho tôi. Tôi gọi điện hỏi, anh ta nói vì bà mẹ ốm nặng lắm nên đang phải lo cho bà. Tôi gửi lời thăm hỏi, đồng thời cũng nhắc anh ta rằng không nên trì hoãn việc chuyển về Báo vì LHH đã có công văn rồi, và đối với nam giới thì có lẽ việc nhà cũng không phải là lý do chính để ảnh hưởng tới công việc cơ quan. Anh ta ừ ào, còn tôi thì linh cảm có gì đó không hay. Sang tháng 9, tôi lại gọi điện giục tiếp. Lần này anh ta nói bà mẹ đã mất, anh ta phải lo đám tang, và bây giờ thì đang phải hoàn thành nốt việc viết lịch sử cho ngành chủ quản đã!
Tôi bực lắm, hiểu ra rằng anh ta làm động tác xin về Báo KH&ĐS chỉ là để “làm le” với bên kia, để họ coi trọng anh ta hơn mà thôi, chứ với thu nhập khoảng 1,5 triệu đồng/tháng (tôi nói với anh ta như vậy để thử xem sao, chứ thực tế nếu anh ta về Báo thì sẽ có thu nhập cao hơn thế nhiều) thì chắc anh ta không có hứng thú. Cả cô Vân và ông Liêm cũng bị anh ta lừa như tôi vậy. Sau đó tôi không liên lạc lại nữa, cả anh ta cũng biệt tăm luôn.
Nhưng rồi một năm sau, bỗng một hôm hai vợ chồng anh ta lại đến nhà tôi, trình bày hoàn cảnh và đề nghị tôi tạo điều kiện cho một lần nữa để về Báo KH&ĐS. Tôi nói thẳng là khi trước tôi rất cần anh, còn bây gìơ tôi đã tự xoay xở được rồi nên việc anh về Báo là không cần thiết nữa.
Vẫn chưa chịu đầu hàng, anh ta đến gặp ông Hồ Uy Liêm. Sép Liêm gọi điện hỏi tôi, tôi cũng báo cáo rằng tôi đã nói với anh ta như thế; và nói thêm rằng tôi và cô Vân đều cho rằng anh ta là người không có trước có sau, và người như thế không thể cùng làm việc. Sếp Liêm không ép tôi. Trong việc này, tôi thấy cần cám ơn cô Vân và ông Liêm đã ủng hộ tôi từ đầu đến cuối. Và rất may cho tôi và cho Báo vì anh ta đã tự để tuột khỏi tay cơ hội về làm ở Báo KH&ĐS.
Cho tới vài năm sau, tôi có gặp lại anh ta 2 lần, có chào nhau xã giao vui vẻ. Trường hợp anh K. này cho tôi thấy thêm một typ người đối với tôi lạ lẫm về bản chất và cung cách ứng xử ; cũng cho tôi thêm một bài học về nhân sự.
5. Nhà báo Chu Thị Việt Nga.
Chị Nga là người miền Nam, học đại học cùng khóa 1967- 1973 với tôi ở Liên Xô. Chỉ có điều chị ấy học Khoa Hóa Trường ĐHTH Bacu- Thủ đô của Agiecbaidan, còn tôi học Vật lý ĐHTH Minsk- Thủ đô của Belarus. Hai chúng tôi khi về nước đều được phân công về Báo Khoa học Thường thức từ năm 1973. Sau Giải phóng miền Nam, chị Nga trở về Nam cùng gia đình. Và vẫn tiếp tục làm ở Cơ quan Thường trú của Báo ở TP HCM.
Là người kiệm lời nhưng làm việc đầy trách nhiệm, luôn là một người trung thực. Mọi người đều hiểu chị , và đa phần đều quý mến chị. Tôi thì coi chị là người bạn thân trong suốt hơn 30 năm cùng công tác và sau khi cả hai đứa đã nghỉ hưu rồi cũng vậy, cho dù khi làm việc, chúng tôi cũng đã từng có lúc phải tranh luận với nhau. Tôi luôn đánh giá cao phẩm chất chủa chị và biết rằng chị là người đáng tin cậy.
Khi cuối năm 1999, lãnh đạo Liên hiệp Hội đặt điều kiện gần như tiên quyết với tôi về việc phải có Phó Tổng biên tập, chị Nga đang là Trưởng Ban Thường trú, phụ trách Cơ quan Thường trú và phụ trách việc xuất bản Phụ san KH&ĐS. Tôi đề xuất phương án chị Nga sau khi đã đạt được sự đồng thuận trong Chi bộ và tập thể Tòa soạn Báo KH&ĐS. Sếp Hoàng và sếp Liêm không phản đối nhưng nói rằng tôi vẫn phải tìm thêm một Phó tổng biên tập là nam giới, tuổi còn có thể làm việc lâu dài để sau này thay tôi. Tôi hứa sẽ tìm, nhưng trước mắt đề nghị cứ đề bạt chị nga để đủ quyền hạn giúp tôi mảng việc của Ban Thường trú đã. Thế là cuối năm 1999, chị Nga được đề bạt Phó tổng biên tập, có quyết định đề bạt trước cả quyết định Tổng biên tập của tôi (vì trường hợp tôi là cấp trưởng nên phải có sự đồng ý của Ban TTVH và Bộ VHTT- thủ tục lâu hơn). Từ đó tôi yên tâm giao toàn bộ việc xuất bản phụ san cho chị Nga , tôi chỉ xử lý những việc cần thiết mà thôi. Và như thế là Báo cũng có đủ TBT và PTBT, cho dù ở miền Bắc- Trụ sở chính và đảm đương công việc chính- tôi vẫn không có cấp phó trợ giúp.
Vậy là cuộc chiến tìm cấp phó đầy cam go của tôi đã kết thúc như vậy. Tới cả 5 năm sau đó, tôi không tìm được ai thêm, và cũng không muốn tìm thêm vì thấy có quá nhiều khó khăn. Tôi quyết tâm đào tạo lớp trẻ cho “chóng lớn”. Năm 2005, tôi đã đề xuất hai ứng viên PTBT cho miền Bắc là Phạm Thanh- Trưởng Ban Khoa học và Công nghệ và Ninh Nhật Minh- Trưởng Ban Thư ký Tòa soạn; Chi bộ Báo đã nhất trí cao (mặc dù Nhật Minh không muốn được đề bạt vì không muốn làm quản lý ở cấp cao hơn hiện tại); tôi đã làm văn bản đề nghị lên cơ quan chủ quản, nhưng việc tôi nghỉ hưu đã làm đảo lộn mọi thứ; công tác cán bộ ở Báo KH&ĐS không còn tiếp nối cái mạch đã có nữa.
(Kỳ sau: Tìm người giỏi)
---------------
PS: Có bạn nhắc tôi về vấn đề Bản quyền. Vậy tôi xin nói rằng: Tác giả giữ bản quyền tất cả các bài viết (entry)trên blog này. Nếu ai muốn đăng lại hoặc trích dẫn cần có sự đồng ý của tác giả.
Chia tổ
Đầu năm 1999 vẫn chưa thể có người làm Trưởng Ban Biên tập, là Ban gồm các phóng viên- biên tập viên, là bộ phận “ong thợ” cung cấp tin, bài cho từng kỳ báo. Cái chính là các em phóng viên đều mới ra trường, chưa đủ kinh nghiệm để có thể giao việc. Mặt khác, khi đó Liên hiệp Hội vẫn áp dụng quy định cũ đối với Báo là cấp Trưởng ban trở lên đều do LHH quyết định bổ nhiệm; mà khâu xem xét quyết định mọi việc cho Báo thường rất lâu, nhiều khi vì sự lâu la ấy mà lỡ thời cơ. Cho nên rất khó cho tôi trong tổ chức và điều hành Tòa soạn.
Tôi bèn áp dụng mô hình tổ chức từ ngày xưa: Khi tôi mới vào làm ở Báo thì không có các Ban mà có các Tổ. Thuật ngữ Tổ không có trong quy định của LHH. Và khi nói Tổ thì mặc nhiên ai cũng biết là nó nhỏ hơn Ban nên tôi quyết định dùng hình thức ấy để gây dựng dần bộ máy cho Báo, cũng là đội ngũ giúp việc cho tôi.
Tôi chọn mấy cô cậu khá nhất làm tổ trưởng: Nhật Minh làm Tổ trưởng Tổ Gia đình- Sức khỏe; Phạm Thanh làm Tổ trưởng Tổ Khoa học- Công nghệ; Thanh Thủy làm Tổ trưởng Tổ Kinh tế- Xã hội; Hà Kiệm làm Tổ trưởng Tổ PV viết (Chỉ chuyên viết, còn các tổ kia chủ yếu làm công tác tổ chức trang báo, đặt bài cộng tác viên và biên tập).
Từ mô hình tổ như thế sau này đã hình thành các ban biên tập với tên gọi đúng như vậy, và những người tôi đã chọn dần dần được bổ nhiệm Phó ban phụ trách Ban (cũng không vi phạm quy định của cơ quan chủ quản); và khi Nghị định 116 về giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp ra đời thì tôi bổ nhiệm họ làm Trưởng ban, trừ Hà Kiệm đã xin chuyển đi Báo khác từ năm 2001. Nhật Minh chuyển qua Ban Thư ký Tòa soạn, Tú Anh thay vị trí của NM ở Ban Gia đình- Sức khỏe.
Với cách đó, tôi đã đào tạo được đội ngũ mà không ai làm gì được vì tôi không vi phạm gì về các quy định về tổ chức- nhân sự do LHH đề ra.
Năm ứng viên phó tổng biên tập
Phụ trách Báo được một thời gian, tôi muốn có một phó tổng biên tâp để đỡ đần cho mình; chứ bộ máy non nớt như thế, mà tôi thì còn phải lo trăm công nghìn việc cho Tòa soạn và tờ báo của mình. Như tôi đã nói, các em PV mới, đến biên tập bài cũng còn lúng túng; tôi phải chú tâm tới cả từng con chữ, maket từng trang báo thì mới đỡ lỗi, và chất lượng tin bài mới đỡ đi xuống. Nhưng như thế thì còn đâu thời gian mà đi làm công tác ngoại giao, mà nghĩ đến những việ to tát khác cho tờ báo. Nhờ được TBT tiền nhiệm giúp cho khâu biên tập bài thì ông lại luôn nhắc tôi rằng tôi phải chịu lấy trách nhiệm đối với các bài đăng trên báo! Và phóng viên thì ỷ lại vào bác ấy, càng không chịu biên tập gì cả.
Công cuộc đi tìm cho mình một người phó cũng gian nan vất vả lắm. Tổng cộng cho đến năm 2002 tôi đã có tất cả 5 ứng viên phó tổng biên tập mà rồi chỉ được có một người được đề bạt làm Phó TBT. Tôi xin kể lần lượt về năm ứng viên ấy.
1. Nhà báo H.T.
Anh này là phóng viên Báo D. (ở đây tôi xin không ghi tên, địa chỉ thật vì lí do tế nhị), nhưng lại làm cả Giám đốc một Trung tâm của Liên hiệp hội. Sếp Vũ Tuyên Hoàng muốn giới thiệu làm ứng viên Phó TBT cho Báo KH&ĐS.
Tôi đã đến thăm nhà để làm quen và tìm hiểu thêm. Đó là một người trẻ tuổi, khá điển trai, lịch lãm theo kiểu hơi nghệ sĩ, ăn nói rất khéo nhưng có sự chân thành. Anh ta mong muốn làm những việc lớn lao như tổ chức sự kiện, tìm các nguồn tài trợ lớn cho tờ báo phát triển thì hơn là đi vào các khâu tỉ mỉ của chuyện bếp núc làm báo. Vì chí lớn như thế nên anh ta tuy vẫn đang là phóng viên một tờ báo lớn nhưng lại lập ra Trung tâm …để làm Giám đốc và có những hoạt động theo sở thích. Tôi thấy nếu sếp Hoàng quyết thì tôi cũng chấp nhận được, và có lẽ như thế thì sẽ bổ sung được những mặt còn yếu của KH&ĐS là tài trợ, quảng cáo…
Một thời gian khá lâu không thấy động tĩnh gì từ phía LHH. Tôi hỏi thì được biết phía Tổ chức LHH có ý kiến không thuận. Đành chịu.
2. Nhà báo Nguyễn Thị Chúc.
Chị Chúc là Trưởng Ban biên tập Tạp chí Khoa học và Tổ quốc- cơ quan ngôn luận của LHH, hơn tôi một tuổi. Không phải là người xuất sắc nhưng có khả năng bán quảng cáo tốt- thứ mà Báo tôi đang rất cần. Biết tôi đang cần người trợ giúp, bên KH&TQ lại đang có những vấn đề nhất định nên chị Chúc muốn chuyển qua làm Báo KH&ĐS với tôi.
Tôi đồng ý. Nhưng Liên hiệp Hội không đồng ý. Phương án ấy thế là cũng hỏng.
3. Nhà báo Nguyễn Như Mai.
Tôi biết anh Mai từ khi anh ấy còn làm Trưởng Ban biên tập của Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, cũng đóng ở 70 Trần Hưng Đạo với Báo của tôi. Anh Mai đã từng cộng tác với Báo KHTT- KH&ĐS, là người có kinh nghiệm trong việc làm báo phổ biến kiến thức. Sau anh chuyển qua Báo Hoa học trò và lúc này đang làm Trưởng Ban biên tập của tờ báo đó.
Tôi nghĩ đến anh ấy, chắc bây giờ cũng sắp nghỉ hưu rồi. Nếu về KH&ĐS thì sẽ phát huy được kinh nghiệm làm báo và kết hợp là người hiểu về khoa học kỹ thuật sẽ đỡ được cho tôi nội dung của tờ báo đẻ tôi còn lo kinh tế, lo thu nhập cho anh chị em. Rồi tôi sẽ tìm cách có thêm một Phó TBT trẻ hơn để nối tiếp khi anh Mai nghỉ hưu. Tìm gặp nói chuyện với anh, anh Mai đồng ý. Anh ấy còn cẩn thận tham khảo ý kiến vợ con và các bạn thân của anh. Cả gia đình và bạn bè anh đều ủng hộ phương án của tôi bàn với anh nên sự quyết tâm của anh càng lớn. Anh viết đơn xin chuyển về Báo KH&ĐS.
Lần này sức cản đến từ phía Báo Hoa học trò (HHT).
Tôi đang tính gặp TBT HHT để nói chuyện. Chưa kịp làm việc đó thì một buổi trưa, đúng 13h điện thoại reo. Đầu giây kia là anh Phong Doanh, Tổng biên tập Báo HHT. Anh chào tôi rồi bắt đầu to tiếng với tôi , rằng đừng có mà rủ rê anh Mai, nào là nếu anh Mai dứt khoát ra đi khỏi HHT thì anh ấy cũng sẽ dứt khoát để anh Mai ra đi tay trắng, như một kẻ đào ngũ (nghĩa là không được cấp giấy tờ hồ sơ gì hết). Tôi với anh Doanh không xa lạ gì vì vẫn gặp nhau ở các cuộc họp giao ban báo chí hàng tuần cũng như họp BCH Hội Nhà báo. Tôi nói với anh Doanh về tình hình khó khăn của tôi mong được anh thông cảm và trợ giúp, về nguyện vọng và sự phù hợp của anh Mai nếu anh Mai chuyển về KH&ĐS; nhưng anh Doanh một mực không nghe.
Thế là anh Mai không về làm phó cho tôi được nữa. Phải tới năm 2002, khi anh Mai nghỉ hưu tôi mới rủ được anh ấy về làm ở Báo, trọng dụng anh và cùng làm việc với anh tới tận tháng 10/2005. Sau khi tôi nghỉ hưu, anh Mai vẫn tiếp tục làm việc cho Báo KH&ĐS một thời gian nữa, nhưng đần dần chuyển sang vị trí khác, mang tính cộng tác nhiều hơn là một người cơ hữu của Tòa soạn.
4. Nhà báo K.T.H.
Nhân vật này khá đặc biệt (và tôi cũng xin không nêu tên thật để khỏi rắc rối cho người ta). Anh ta vốn là Tổng biên tập một Tạp chí của một doanh nghiệp lớn. Do lủng củng nội bộ, anh ta phải chuyển làm công tác thi đua của ngành.
Trong quá trình đi tìm người làm cấp phó cho mình, tôi có nhờ các anh chị quen biết trong ngành báo chí giới thiệu cho mình các ứng viên tin cậy.
Đầu năm 2000, ông Dương Quang Minh- Phó giám đốc Trung tâm Báo chí Văn phòng Chính phủ- đến Tòa soạn cùng với một người để giới thiệu ứng viên Phó TBT với tôi, chính là ông K. Chúng tôi nói chuyện với nhau, đúng ra thì chủ yếu là tôi nghe anh ta nói về bản thân. Anh ta bảo không hề có lỗi gì trong vụ scandal ở Tạp chí, quản lý tài chính bên đó minh bạch, có khả năng lôi kéo được nhiều quảng cáo…và vẫn rất muốn làm báo. Nếu tôi chấp nhận, anh ta sẽ đóng góp được nhiều cho Báo KH&ĐS. Anh ta đưa đơn xin việc cùng hồ sơ hợp lệ cho tôi. Tôi hẹn sẽ gặp lại sau rồi tranh thủ qua nhiều kênh tìm hiểu về con người này.
Những người có trách nhiệm mà tôi quen biết và tin cậy ở Bộ Vănhóa-Thông tin, Ban tư tưởng VH TƯ, Hội Nhà báo VN đều nói có thể nhận anh ta làm Phó TBT Báo KH&ĐS. Chỉ có một chị bạn tôi, cũng là nhà báo, Tổng biên tập một tờ báo khác là bảo tôi rằng họ là đàn ông mà đã từng làm cấp trưởng rồi thì chẳng nên nhận họ làm phó cho mình làm gì. Sau này tôi mới thấy lẽ ra nên nghe theo lời khuyên của chị. Nhưng lúc ấy tôi đang bí người, lại có những người như thế ủng hộ mà không xem xét thì cũng không ổn.
Tôi trao đổi với cô Vân (Trưởng Ban Tổ chức LHH)và báo cáo với sếp Hồ Uy Liêm (Tổng Thư ký LHH) về trường hợp này.
Sếp Liêm cử cô Vân đến cơ quan chủ quản của Tạp chí đó để tìm hiểu kỹ hơn. Cô Vân còn tới cả nhà anh K. để tìm hiểu gia cảnh anh ta. Cuối cùng, họ đồng ý nhận anh K. và làm công văn xin người gửi cơ quan chủ quản bên đó. Lúc đó là vào khoảng tháng 6/2000. Tháng 7 trôi qua , rồi tháng 8 đến mà tôi không thấy anh ta thông tin gì lại cho tôi. Tôi gọi điện hỏi, anh ta nói vì bà mẹ ốm nặng lắm nên đang phải lo cho bà. Tôi gửi lời thăm hỏi, đồng thời cũng nhắc anh ta rằng không nên trì hoãn việc chuyển về Báo vì LHH đã có công văn rồi, và đối với nam giới thì có lẽ việc nhà cũng không phải là lý do chính để ảnh hưởng tới công việc cơ quan. Anh ta ừ ào, còn tôi thì linh cảm có gì đó không hay. Sang tháng 9, tôi lại gọi điện giục tiếp. Lần này anh ta nói bà mẹ đã mất, anh ta phải lo đám tang, và bây giờ thì đang phải hoàn thành nốt việc viết lịch sử cho ngành chủ quản đã!
Tôi bực lắm, hiểu ra rằng anh ta làm động tác xin về Báo KH&ĐS chỉ là để “làm le” với bên kia, để họ coi trọng anh ta hơn mà thôi, chứ với thu nhập khoảng 1,5 triệu đồng/tháng (tôi nói với anh ta như vậy để thử xem sao, chứ thực tế nếu anh ta về Báo thì sẽ có thu nhập cao hơn thế nhiều) thì chắc anh ta không có hứng thú. Cả cô Vân và ông Liêm cũng bị anh ta lừa như tôi vậy. Sau đó tôi không liên lạc lại nữa, cả anh ta cũng biệt tăm luôn.
Nhưng rồi một năm sau, bỗng một hôm hai vợ chồng anh ta lại đến nhà tôi, trình bày hoàn cảnh và đề nghị tôi tạo điều kiện cho một lần nữa để về Báo KH&ĐS. Tôi nói thẳng là khi trước tôi rất cần anh, còn bây gìơ tôi đã tự xoay xở được rồi nên việc anh về Báo là không cần thiết nữa.
Vẫn chưa chịu đầu hàng, anh ta đến gặp ông Hồ Uy Liêm. Sép Liêm gọi điện hỏi tôi, tôi cũng báo cáo rằng tôi đã nói với anh ta như thế; và nói thêm rằng tôi và cô Vân đều cho rằng anh ta là người không có trước có sau, và người như thế không thể cùng làm việc. Sếp Liêm không ép tôi. Trong việc này, tôi thấy cần cám ơn cô Vân và ông Liêm đã ủng hộ tôi từ đầu đến cuối. Và rất may cho tôi và cho Báo vì anh ta đã tự để tuột khỏi tay cơ hội về làm ở Báo KH&ĐS.
Cho tới vài năm sau, tôi có gặp lại anh ta 2 lần, có chào nhau xã giao vui vẻ. Trường hợp anh K. này cho tôi thấy thêm một typ người đối với tôi lạ lẫm về bản chất và cung cách ứng xử ; cũng cho tôi thêm một bài học về nhân sự.
5. Nhà báo Chu Thị Việt Nga.
Chị Nga là người miền Nam, học đại học cùng khóa 1967- 1973 với tôi ở Liên Xô. Chỉ có điều chị ấy học Khoa Hóa Trường ĐHTH Bacu- Thủ đô của Agiecbaidan, còn tôi học Vật lý ĐHTH Minsk- Thủ đô của Belarus. Hai chúng tôi khi về nước đều được phân công về Báo Khoa học Thường thức từ năm 1973. Sau Giải phóng miền Nam, chị Nga trở về Nam cùng gia đình. Và vẫn tiếp tục làm ở Cơ quan Thường trú của Báo ở TP HCM.
Là người kiệm lời nhưng làm việc đầy trách nhiệm, luôn là một người trung thực. Mọi người đều hiểu chị , và đa phần đều quý mến chị. Tôi thì coi chị là người bạn thân trong suốt hơn 30 năm cùng công tác và sau khi cả hai đứa đã nghỉ hưu rồi cũng vậy, cho dù khi làm việc, chúng tôi cũng đã từng có lúc phải tranh luận với nhau. Tôi luôn đánh giá cao phẩm chất chủa chị và biết rằng chị là người đáng tin cậy.
Khi cuối năm 1999, lãnh đạo Liên hiệp Hội đặt điều kiện gần như tiên quyết với tôi về việc phải có Phó Tổng biên tập, chị Nga đang là Trưởng Ban Thường trú, phụ trách Cơ quan Thường trú và phụ trách việc xuất bản Phụ san KH&ĐS. Tôi đề xuất phương án chị Nga sau khi đã đạt được sự đồng thuận trong Chi bộ và tập thể Tòa soạn Báo KH&ĐS. Sếp Hoàng và sếp Liêm không phản đối nhưng nói rằng tôi vẫn phải tìm thêm một Phó tổng biên tập là nam giới, tuổi còn có thể làm việc lâu dài để sau này thay tôi. Tôi hứa sẽ tìm, nhưng trước mắt đề nghị cứ đề bạt chị nga để đủ quyền hạn giúp tôi mảng việc của Ban Thường trú đã. Thế là cuối năm 1999, chị Nga được đề bạt Phó tổng biên tập, có quyết định đề bạt trước cả quyết định Tổng biên tập của tôi (vì trường hợp tôi là cấp trưởng nên phải có sự đồng ý của Ban TTVH và Bộ VHTT- thủ tục lâu hơn). Từ đó tôi yên tâm giao toàn bộ việc xuất bản phụ san cho chị Nga , tôi chỉ xử lý những việc cần thiết mà thôi. Và như thế là Báo cũng có đủ TBT và PTBT, cho dù ở miền Bắc- Trụ sở chính và đảm đương công việc chính- tôi vẫn không có cấp phó trợ giúp.
Vậy là cuộc chiến tìm cấp phó đầy cam go của tôi đã kết thúc như vậy. Tới cả 5 năm sau đó, tôi không tìm được ai thêm, và cũng không muốn tìm thêm vì thấy có quá nhiều khó khăn. Tôi quyết tâm đào tạo lớp trẻ cho “chóng lớn”. Năm 2005, tôi đã đề xuất hai ứng viên PTBT cho miền Bắc là Phạm Thanh- Trưởng Ban Khoa học và Công nghệ và Ninh Nhật Minh- Trưởng Ban Thư ký Tòa soạn; Chi bộ Báo đã nhất trí cao (mặc dù Nhật Minh không muốn được đề bạt vì không muốn làm quản lý ở cấp cao hơn hiện tại); tôi đã làm văn bản đề nghị lên cơ quan chủ quản, nhưng việc tôi nghỉ hưu đã làm đảo lộn mọi thứ; công tác cán bộ ở Báo KH&ĐS không còn tiếp nối cái mạch đã có nữa.
(Kỳ sau: Tìm người giỏi)
---------------
PS: Có bạn nhắc tôi về vấn đề Bản quyền. Vậy tôi xin nói rằng: Tác giả giữ bản quyền tất cả các bài viết (entry)trên blog này. Nếu ai muốn đăng lại hoặc trích dẫn cần có sự đồng ý của tác giả.
29 thg 10, 2007
Tăng kỳ "xôi đỗ" (Hồi ký- Kỳ 13)
Tăng kỳ theo kiểu “xôi đỗ” (Hồi ký- Kỳ 13)
Một thông tin mới làm chúng tôi bị choáng: Triển khai thực hiện Chỉ thị 22 của Bộ Chính trị về sắp xếp lại hệ thông báo chí, Bộ VHTT cấp lại giấy phép cho tất cả báo chí trong nước. Với Báo KH&ĐS, trong giấy phép mới không còn phụ san 2 kỳ/tháng nữa mà chỉ còn một số cuối tháng với khuôn khổ và số trang như phụ san hiện có.
Thì ra do chúng tôi bị tai nạn đúng vào lúc Bộ VHTT ra quyết định về việc ấy, mà trong quyết định mới không còn thuật ngữ phụ san, không còn các loại ấn phẩm ra 2 kỳ/tháng, chúng tôi lại không biết để xin ý kiến tư vấn của họ nên xảy ra việc này. Như thế có nghĩa là Ban Thường trú xẽ bị mất bớt công ăn việc làm, mất cộng tác viên và doanh thu của Ban sẽ giảm, đương nhiên thu nhập của anh chị em sẽ bị giảm. Chúng tôi cấp tốc bàn phương án xử lý.
Phương án trước tiên là tăng kỳ báo chính lên 2kỳ/tuần sẽ dễ xin phép được. Nhưng muốn vậy phải phân công rõ ràng và phối hợp nhịp nhàng giữa Tòa soạn ở Hà Nội và Ban Thường trú (BTT) vì phải giải quyết cho BTT có đủ việc làm (để có đủ thu nhập và ngang bằng với Tòa soạn ở Hà Nội), lực lượng TS cũng chưa đủ để đảm đương 2kỳ/tuần. Các tính toán cụ thể được đề ra. Tuy nhiên, chúng tôi đã không thống nhất được phương án này.
Lúc này, tôi đã đến Tòa soạn làm việc được (hàng ngày nhờ con đèo đi). Tôi mời chị Nga, anh Xuân và Mai Nam ra HN để cùng với anh chị em ngoài này bàn bạc. Tìm mãi vẫn chưa ra được phương án tối ưu sao cho thỏa mãn tất cả mọi điều kiện hiện có của Tòa soạn lẫn Ban Thường trú. Chỉ còn ít ngày nữa là ba người sẽ phải trở về TPHCM mà tình hình xem ra vẫn chưa ổn; nếu cứ liều tăng kỳ sợ rằng trong quá trình thực hiện sẽ trục trặc vì khi đó chúng tôi vẫn còn làm báo theo cách thủ công, chưa áp dụng được mạng bởi hệ thống máy tính chưa đầy đủ; sự liên lạc và phối hợp giữa Tòa soạn với Ban Thường trú sẽ khó đáp ứng được tiến độ ra báo. Tôi quyết định cầu cứu Bộ VHTT. Tôi gọi điện thoại cho ông Đỗ Quý Doãn- Vụ trưởng Vụ Báo chí (nay là Thứ trưởng Bộ Thông tin- Truyền thông) và ông Phan Khắc Hải - Thứ trưởng. Với cả hai người, tôi đều nói về tai nạn ô tô vừa xảy ra với chúng tôi và với cá nhân tôi, về khó khăn mà chúng tôi sẽ phải gánh chịu với giấy phép mới. Ông Doãn tư vấn cho tôi làm công văn xin ra số cuối tuần nhưng tạm thời giữ hai kỳ/ tuần và sẽ chuẩn bị để ra hàng tuần. Ông Hải ủng hộ phương án đó. Chị Hồng- chuyên viên Vụ Báo chí giúp tôi soạn thảo công văn trả lời cho phép của Vụ Báo chí. Và tới buổi sáng đúng ngày mà chị Nga, anh Xuân và Mai Nam chuẩn bị ra về thì tôi mang giấy phép về việc được giữ 2 kỳ /tháng về Tòa soạn (Mọi người đều bất ngờ và hoan hỉ vì trút được gánh nặng lớn.
Riêng tôi, không bao giờ quên được sự giúp đỡ ấy của các anh chị ở Bộ VHTT.
Thế là đã giải quyết được vấn đề công ăn việc làm cho Ban Thường trú. Nhưng bước tiến mới của tờ báo phải ra sao đây trong hoàn cảnh mới này. Đang đà bàn bạc về việc tăng kỳ, tôi tính dấn tới luôn. Nhưng lực lượng mỏng quá. Số phóng viên chỉ có 8 người, trong đó anh Bắc đã lớn tuổi, không thể đảm nhận được khối lượng lớn bài vở, 6 phóng viên nữ thì luôn bị đe dọa là có thể mang bầu và nghỉ đẻ bất kỳ lúc nào (như trường hợp khi làm báo Tết năm 2004 cả Tòa soạn nghỉ đẻ tới 4 người trong đó 3 nữ phóng viên nên số phóng viên còn lại làm việc hằng ngày chỉ có 5 người). Nhưng chúng tôi vẫn bàn bạc và hạ quyết tâm: sẽ vẫn tăng kỳ, nhưng trước mắt chỉ tăng thêm 2 kỳ mỗi tháng; nghĩa là cứ cách một tuần thì có một tuần ra 2 kỳ; chúng tôi gọi là tăng theo kiểu “xôi đỗ”; việc tăng kỳ báo chính chỉ do Tòa soạn ở Hà Nội đảm nhận. Mới tăng kỳ như vậy, thông tin đã thấy được mang tính thời sự hơn, không bị thường xuyên “xài đồ cổ” nữa.
Tôi tổ chức đấu thầu
Báo KH&ĐS ra kiểu xôi đỗ được một thời gian thì những người phát hành báo, chủ yếu là các đại lý bán lẻ, kêu quá trời. Họ nói thế này chẳng biết đằng nào mà lần vì khó nhớ nổi quy luật “xôi đỗ” của báo. Tòa soạn cũng thấy khó chịu và muốn bứt lên thành 2 kỳ/tuần cho thành nếp làm việc ổn định, cho thông tin tới bạn đọc được kịp thời hơn, phong phú hơn.
Nhưng tăng thành 2 kỳ/tuần như vậy phải tính toán nhiều chuyện, từ bố trí lực lượng Tòa soạn, rồi phải bảo đảm nội dung sao cho bạn đọc chấp nhận tới việc lo tăng thu nhập cho anh chị em vì khối lượng công việc sẽ tăng; công việc tăng mà thu nhập không tăng thì thiệt thòi cho mọi người, cũng sẽ mất dần động lực làm việc. Tóm lại, phải thay đổi quy trình hoàn toàn, và hệ thống máy tính là công cụ để thực hiện quy trình ấy cho có hiệu quả hơn so với hiện tại.
Trước hết, nếu vẫn giữ cách làm báo và trình bày báo theo lối thủ công- nghĩa là họa sĩ vẽ maket bằng tay rồi đưa Nhà in trình bày lại bằng máy tính; bài vở cũng phải chuyển Nhà in toàn bộ, họ đưa nội dung vào maket, Tòa soạn cử người ra Nhà in đọc bông (soát bản in thử trên máy tính)…- thì không thể bảo đảm về thời gian và vì vậy sẽ mất tính thời sự của tin, bài cũng như mất nhiều sức lực của anh chị em.
Cho nên phải nghĩ tới việc trang bị cho mỗi phóng viên một máy tính. Lúc này đang 2 PV sử dụng chung một máy tính, khá bất tiện vì khi thì không ai dùng máy vì còn lo giao dịch tìm tin bài bên ngoài Tòa soạn, khi thì cả 2 người cần sử dụng lại không đủ máy.
Với Ban Thư ký Tòa soạn cũng phải có máy cho khâu tổng hợp, cho họa sĩ trình bày, mà máy phải mạnh hơn máy của phóng viên.
Ngoài ra phải nối mạng LAN thì mới chuyển được từ Nhà in về làm tại Tòa soạn khâu xử lý bài vở khi trình bày báo.
Tất cả những thứ đó sẽ tốn khá nhiều tiền.
Còn nhớ, năm trước có một người đến Tòa soạn tìm tôi đặt vấn đề sẽ “chạy” cho Báo một dự án trang bị máy tính nối mạng LAN trị giá khoảng 400-500 triệu đồng với điều kiện phải mua máy tính của một công ty của họ chỉ định, với giá “cao hơn bình thường một chút” vì họ còn phải trang trải chi phí để có dự án, trong đó có cả phần cho tôi là Tổng biên tập! Tôi đã thẳng thừng từ chối. Bây giờ biết lấy tiền đâu để sắm máy cho Tòa soạn đây? Tôi xem lại quyết toán tài chính gần nhất, thấy nếu mua máy như vậy, cứ cho là hết ít nhất tới 400 triệu như người ta đã mời chào thì vẫn có thể chi trả được mà không phải vay mượn ai, tuy rằng chưa chắc Ban Trị sự đã vui vẻ với phương án sử dụng một lượng tiền lớn như thế cho việc mua máy tính.
Đã có thể chủ động về tiền, tôi đưa chủ trương ra bàn với mọi người. Anh chị em nhất trí cả nhưng tôi biết họ vẫn mỗi người có mối lo riêng đối với việc này.
Theo quy định, mua sắm mà trên 100 triệu đồng thì phải tổ chức đấu thầu- một việc mà cả Tòa soạn chưa ai làm bao giờ. Xin được các văn bản quy định về đấu thầu, tôi đọc trước. Toàn những thuật ngữ và khái niệm lạ hoắc đối với chúng tôi nhưng phải cố mà hiểu. Rồi chuyển chị Vụ đọc. Hôm sau Vụ bảo:
- Chẳng hiểu gì cả, đọc nhức cả đầu.
Tôi phải nhờ một người bạn hiểu biết việc đấu thầu giảng giải cho trình tự các bước tiến hành ra sao. Sau khi đã hiểu quy trình, hiểu thế nào là hồ sơ mời thầu, là mở thầu, đóng thầu…, tôi nói mọi người thông báo cho một số công ty về việc Báo KH&ĐS sẽ mua máy tính như thế, như thế…
Người của 4 công ty đến gặp tôi liền, tôi đều tiếp và tranh thủ hỏi họ về các vấn đề liên quan đến kỹ thuật và quản lý một mạng LAN như thế để hiểu rõ hơn vấn đề (vì bản thân tôi không chuyên về máy tính, cũng chưa sử dụng máy tính thành thạo nữa vì đâu có thời gian mà học), cũng là thăm dò giá cả thị trường ra sao để tránh bị mua hớ trong khi nguồn tiền của Tòa soạn chỉ có hạn.
Sau những cuộc gặp như thế tôi đã hình dung được một cách rõ ràng cái mạng LAN của mình sẽ hoạt động ra sao, làm sao để ra được sản phẩm cuối là bản bông của tờ báo được in trên giấy can để đưa ra nhà in chỉ làm khâu montage là in được…; và quan trọng nhất là xác định được rằng với yêu cầu của tôi thì có lẽ tổng số tiền cần cho vụ này chỉ khoảng 150- 170 triệu đồng.
Mặc dù số tiền chỉ cần có vậy nhưng chị Vụ vẫn khuyên tôi nên xem lại chủ trương: liệu sắm từng đó máy tính có quá tay không vì nghe nói ngay ở bên Đài TNVN các PV cũng không được mỗi người một máy riêng như thế. Tôi hiểu rằng Vụ lo là tiêu một số tiền lớn như thế thì nguồn tiền của Tòa soạn bị giảm sút chứ cũng chẳng phải là phản đối gì tôi, nên tôi vẫn quyết tâm và động viên rằng rồi chúng ta sẽ kiếm được để bù vào.
Tôi lập một Hội đồng đấu thầu có đến gần một nửa Tòa soạn tham gia. Mọi người cũng thấy thú vị được tham gia một việc quan trọng như thế, lạ lẫm như thế của Tòa soạn.
Chúng tôi tiến hành các việc theo đúng trình tự như tôi đã được chỉ bảo cặn kẽ, nghĩa là đúng theo quy định của Nhà nước. Kết quả là một Công ty máy tính của bên quân đội thắng thầu với tổng số tiền chỉ là 150 triệu đồng.
Chỉ một tuần sau, họ lắp đặt xong mạng LAN cho chúng tôi với 7 máy tính cho 7 phóng viên (trừ anh Bắc không biết sử dụng máy tính) và 3 máy cho Ban Thư ký Tòa soạn, thêm cả các máy in cho đủ dùng xông xênh, cả máy scanner để copy hình ảnh phục vụ khâu trình bày báo.
Tất cả phóng viên hoan hỉ vì được sử dụng riêng mỗi người một máy. Phạm Thanh còn bảo tôi rằng không nghĩ là tôi lại liều sắm cho mỗi người một máy như thế.
Tập dượt sử dụng công nghệ mới
Có máy rồi, nhưng việc sử dụng máy rất quan trọng để bảo đảm làm việc hiệu quả. Các phóng viên phải quen với việc chuyển tin, bài của họ cho máy tổng hợp của Ban TKTS thì không có vấn đề gì đáng ngại. Nhưng khâu trình bày báo thực sự lôi thôi vì họa sĩ trình bày báo chính là chị Thục Uyên, người trình bày Chuyên đề Dân tộc thiểu số và miền núi là Sĩ Lâm của Ban TKTS đều chưa biết làm maket trên máy. Tôi phát hiện có Trần Văn Lương đang làm bảo vệ cơ quan có biết khâu đổ bài vào maket. Thế là tôi bố trí cho Lương làm bán thời gian ở Ban TKTS; chị Uyên sẽ làm maket bằng tay, còn Lương đổ bài và chỉnh sửa. Cùng lúc đó để chị Uyên và Sĩ Lâm đi học làm maket bằng máy tính ngoài giờ ở Trung tâm tin học IDEA.
Nhưng khi bắt tay vào làm thì thấy mọi việc lại chậm hơn khi chưa có máy. Thì ra Lương phải vẽ lại maket theo bản vẽ tay của chị Uyên rồi mới đổ bài được, làm tăng thời gian làm maket lên gấp đôi. Một mặt đành phải chấp nhận thực tại, vẫn để mọi người làm máy cho quen và đợi chị Uyên và Lâm đi học xong; mặt khác tôi đề nghị Lương phải học làm maket bằng máy.
Lắp xong mạng LAN là tháng 6/2002. Chúng tôi đặt kế hoạch: đến tháng 11 phải tự làm được các khâu ở Tòa soạn cho ra bản can. Nhưng phải chậm lại vài tháng vì Lương cưới vợ tháng 12. Trước đó, chúng tôi thỏa thuận với Nhà in để có một thời gian giao thời: Tòa soạn làm can được trang nào thì làm, còn thì chủ yếu vẫn do Nhà in đảm nhiệm. Đến tháng 1/2003 thì chúng tôi hoàn toàn chuyển làm ở Tòa soạn toàn bộ các khâu cho đến bản can. Nhờ thế việc chuyển bản thảo cho Nhà in chậm lại được tới 2 ngày, nghĩa là tăng được tính thời sự của tin, bài lên 2 ngày và hơn thế, bởi với quy trình mới, đến phút cuối vẫn có thể thay các tin, bài thời sự nếu cần.
Bây giờ phải tập trung lo khâu thiết kế nội dung để ra đều 2 kỳ/tuần. Nhưng chuyện xây dựng đội ngũ không kém phần quan trọng.
(Kỳ sau: Năm ứng viên Phó Tổng biên tập)
Một thông tin mới làm chúng tôi bị choáng: Triển khai thực hiện Chỉ thị 22 của Bộ Chính trị về sắp xếp lại hệ thông báo chí, Bộ VHTT cấp lại giấy phép cho tất cả báo chí trong nước. Với Báo KH&ĐS, trong giấy phép mới không còn phụ san 2 kỳ/tháng nữa mà chỉ còn một số cuối tháng với khuôn khổ và số trang như phụ san hiện có.
Thì ra do chúng tôi bị tai nạn đúng vào lúc Bộ VHTT ra quyết định về việc ấy, mà trong quyết định mới không còn thuật ngữ phụ san, không còn các loại ấn phẩm ra 2 kỳ/tháng, chúng tôi lại không biết để xin ý kiến tư vấn của họ nên xảy ra việc này. Như thế có nghĩa là Ban Thường trú xẽ bị mất bớt công ăn việc làm, mất cộng tác viên và doanh thu của Ban sẽ giảm, đương nhiên thu nhập của anh chị em sẽ bị giảm. Chúng tôi cấp tốc bàn phương án xử lý.
Phương án trước tiên là tăng kỳ báo chính lên 2kỳ/tuần sẽ dễ xin phép được. Nhưng muốn vậy phải phân công rõ ràng và phối hợp nhịp nhàng giữa Tòa soạn ở Hà Nội và Ban Thường trú (BTT) vì phải giải quyết cho BTT có đủ việc làm (để có đủ thu nhập và ngang bằng với Tòa soạn ở Hà Nội), lực lượng TS cũng chưa đủ để đảm đương 2kỳ/tuần. Các tính toán cụ thể được đề ra. Tuy nhiên, chúng tôi đã không thống nhất được phương án này.
Lúc này, tôi đã đến Tòa soạn làm việc được (hàng ngày nhờ con đèo đi). Tôi mời chị Nga, anh Xuân và Mai Nam ra HN để cùng với anh chị em ngoài này bàn bạc. Tìm mãi vẫn chưa ra được phương án tối ưu sao cho thỏa mãn tất cả mọi điều kiện hiện có của Tòa soạn lẫn Ban Thường trú. Chỉ còn ít ngày nữa là ba người sẽ phải trở về TPHCM mà tình hình xem ra vẫn chưa ổn; nếu cứ liều tăng kỳ sợ rằng trong quá trình thực hiện sẽ trục trặc vì khi đó chúng tôi vẫn còn làm báo theo cách thủ công, chưa áp dụng được mạng bởi hệ thống máy tính chưa đầy đủ; sự liên lạc và phối hợp giữa Tòa soạn với Ban Thường trú sẽ khó đáp ứng được tiến độ ra báo. Tôi quyết định cầu cứu Bộ VHTT. Tôi gọi điện thoại cho ông Đỗ Quý Doãn- Vụ trưởng Vụ Báo chí (nay là Thứ trưởng Bộ Thông tin- Truyền thông) và ông Phan Khắc Hải - Thứ trưởng. Với cả hai người, tôi đều nói về tai nạn ô tô vừa xảy ra với chúng tôi và với cá nhân tôi, về khó khăn mà chúng tôi sẽ phải gánh chịu với giấy phép mới. Ông Doãn tư vấn cho tôi làm công văn xin ra số cuối tuần nhưng tạm thời giữ hai kỳ/ tuần và sẽ chuẩn bị để ra hàng tuần. Ông Hải ủng hộ phương án đó. Chị Hồng- chuyên viên Vụ Báo chí giúp tôi soạn thảo công văn trả lời cho phép của Vụ Báo chí. Và tới buổi sáng đúng ngày mà chị Nga, anh Xuân và Mai Nam chuẩn bị ra về thì tôi mang giấy phép về việc được giữ 2 kỳ /tháng về Tòa soạn (Mọi người đều bất ngờ và hoan hỉ vì trút được gánh nặng lớn.
Riêng tôi, không bao giờ quên được sự giúp đỡ ấy của các anh chị ở Bộ VHTT.
Thế là đã giải quyết được vấn đề công ăn việc làm cho Ban Thường trú. Nhưng bước tiến mới của tờ báo phải ra sao đây trong hoàn cảnh mới này. Đang đà bàn bạc về việc tăng kỳ, tôi tính dấn tới luôn. Nhưng lực lượng mỏng quá. Số phóng viên chỉ có 8 người, trong đó anh Bắc đã lớn tuổi, không thể đảm nhận được khối lượng lớn bài vở, 6 phóng viên nữ thì luôn bị đe dọa là có thể mang bầu và nghỉ đẻ bất kỳ lúc nào (như trường hợp khi làm báo Tết năm 2004 cả Tòa soạn nghỉ đẻ tới 4 người trong đó 3 nữ phóng viên nên số phóng viên còn lại làm việc hằng ngày chỉ có 5 người). Nhưng chúng tôi vẫn bàn bạc và hạ quyết tâm: sẽ vẫn tăng kỳ, nhưng trước mắt chỉ tăng thêm 2 kỳ mỗi tháng; nghĩa là cứ cách một tuần thì có một tuần ra 2 kỳ; chúng tôi gọi là tăng theo kiểu “xôi đỗ”; việc tăng kỳ báo chính chỉ do Tòa soạn ở Hà Nội đảm nhận. Mới tăng kỳ như vậy, thông tin đã thấy được mang tính thời sự hơn, không bị thường xuyên “xài đồ cổ” nữa.
Tôi tổ chức đấu thầu
Báo KH&ĐS ra kiểu xôi đỗ được một thời gian thì những người phát hành báo, chủ yếu là các đại lý bán lẻ, kêu quá trời. Họ nói thế này chẳng biết đằng nào mà lần vì khó nhớ nổi quy luật “xôi đỗ” của báo. Tòa soạn cũng thấy khó chịu và muốn bứt lên thành 2 kỳ/tuần cho thành nếp làm việc ổn định, cho thông tin tới bạn đọc được kịp thời hơn, phong phú hơn.
Nhưng tăng thành 2 kỳ/tuần như vậy phải tính toán nhiều chuyện, từ bố trí lực lượng Tòa soạn, rồi phải bảo đảm nội dung sao cho bạn đọc chấp nhận tới việc lo tăng thu nhập cho anh chị em vì khối lượng công việc sẽ tăng; công việc tăng mà thu nhập không tăng thì thiệt thòi cho mọi người, cũng sẽ mất dần động lực làm việc. Tóm lại, phải thay đổi quy trình hoàn toàn, và hệ thống máy tính là công cụ để thực hiện quy trình ấy cho có hiệu quả hơn so với hiện tại.
Trước hết, nếu vẫn giữ cách làm báo và trình bày báo theo lối thủ công- nghĩa là họa sĩ vẽ maket bằng tay rồi đưa Nhà in trình bày lại bằng máy tính; bài vở cũng phải chuyển Nhà in toàn bộ, họ đưa nội dung vào maket, Tòa soạn cử người ra Nhà in đọc bông (soát bản in thử trên máy tính)…- thì không thể bảo đảm về thời gian và vì vậy sẽ mất tính thời sự của tin, bài cũng như mất nhiều sức lực của anh chị em.
Cho nên phải nghĩ tới việc trang bị cho mỗi phóng viên một máy tính. Lúc này đang 2 PV sử dụng chung một máy tính, khá bất tiện vì khi thì không ai dùng máy vì còn lo giao dịch tìm tin bài bên ngoài Tòa soạn, khi thì cả 2 người cần sử dụng lại không đủ máy.
Với Ban Thư ký Tòa soạn cũng phải có máy cho khâu tổng hợp, cho họa sĩ trình bày, mà máy phải mạnh hơn máy của phóng viên.
Ngoài ra phải nối mạng LAN thì mới chuyển được từ Nhà in về làm tại Tòa soạn khâu xử lý bài vở khi trình bày báo.
Tất cả những thứ đó sẽ tốn khá nhiều tiền.
Còn nhớ, năm trước có một người đến Tòa soạn tìm tôi đặt vấn đề sẽ “chạy” cho Báo một dự án trang bị máy tính nối mạng LAN trị giá khoảng 400-500 triệu đồng với điều kiện phải mua máy tính của một công ty của họ chỉ định, với giá “cao hơn bình thường một chút” vì họ còn phải trang trải chi phí để có dự án, trong đó có cả phần cho tôi là Tổng biên tập! Tôi đã thẳng thừng từ chối. Bây giờ biết lấy tiền đâu để sắm máy cho Tòa soạn đây? Tôi xem lại quyết toán tài chính gần nhất, thấy nếu mua máy như vậy, cứ cho là hết ít nhất tới 400 triệu như người ta đã mời chào thì vẫn có thể chi trả được mà không phải vay mượn ai, tuy rằng chưa chắc Ban Trị sự đã vui vẻ với phương án sử dụng một lượng tiền lớn như thế cho việc mua máy tính.
Đã có thể chủ động về tiền, tôi đưa chủ trương ra bàn với mọi người. Anh chị em nhất trí cả nhưng tôi biết họ vẫn mỗi người có mối lo riêng đối với việc này.
Theo quy định, mua sắm mà trên 100 triệu đồng thì phải tổ chức đấu thầu- một việc mà cả Tòa soạn chưa ai làm bao giờ. Xin được các văn bản quy định về đấu thầu, tôi đọc trước. Toàn những thuật ngữ và khái niệm lạ hoắc đối với chúng tôi nhưng phải cố mà hiểu. Rồi chuyển chị Vụ đọc. Hôm sau Vụ bảo:
- Chẳng hiểu gì cả, đọc nhức cả đầu.
Tôi phải nhờ một người bạn hiểu biết việc đấu thầu giảng giải cho trình tự các bước tiến hành ra sao. Sau khi đã hiểu quy trình, hiểu thế nào là hồ sơ mời thầu, là mở thầu, đóng thầu…, tôi nói mọi người thông báo cho một số công ty về việc Báo KH&ĐS sẽ mua máy tính như thế, như thế…
Người của 4 công ty đến gặp tôi liền, tôi đều tiếp và tranh thủ hỏi họ về các vấn đề liên quan đến kỹ thuật và quản lý một mạng LAN như thế để hiểu rõ hơn vấn đề (vì bản thân tôi không chuyên về máy tính, cũng chưa sử dụng máy tính thành thạo nữa vì đâu có thời gian mà học), cũng là thăm dò giá cả thị trường ra sao để tránh bị mua hớ trong khi nguồn tiền của Tòa soạn chỉ có hạn.
Sau những cuộc gặp như thế tôi đã hình dung được một cách rõ ràng cái mạng LAN của mình sẽ hoạt động ra sao, làm sao để ra được sản phẩm cuối là bản bông của tờ báo được in trên giấy can để đưa ra nhà in chỉ làm khâu montage là in được…; và quan trọng nhất là xác định được rằng với yêu cầu của tôi thì có lẽ tổng số tiền cần cho vụ này chỉ khoảng 150- 170 triệu đồng.
Mặc dù số tiền chỉ cần có vậy nhưng chị Vụ vẫn khuyên tôi nên xem lại chủ trương: liệu sắm từng đó máy tính có quá tay không vì nghe nói ngay ở bên Đài TNVN các PV cũng không được mỗi người một máy riêng như thế. Tôi hiểu rằng Vụ lo là tiêu một số tiền lớn như thế thì nguồn tiền của Tòa soạn bị giảm sút chứ cũng chẳng phải là phản đối gì tôi, nên tôi vẫn quyết tâm và động viên rằng rồi chúng ta sẽ kiếm được để bù vào.
Tôi lập một Hội đồng đấu thầu có đến gần một nửa Tòa soạn tham gia. Mọi người cũng thấy thú vị được tham gia một việc quan trọng như thế, lạ lẫm như thế của Tòa soạn.
Chúng tôi tiến hành các việc theo đúng trình tự như tôi đã được chỉ bảo cặn kẽ, nghĩa là đúng theo quy định của Nhà nước. Kết quả là một Công ty máy tính của bên quân đội thắng thầu với tổng số tiền chỉ là 150 triệu đồng.
Chỉ một tuần sau, họ lắp đặt xong mạng LAN cho chúng tôi với 7 máy tính cho 7 phóng viên (trừ anh Bắc không biết sử dụng máy tính) và 3 máy cho Ban Thư ký Tòa soạn, thêm cả các máy in cho đủ dùng xông xênh, cả máy scanner để copy hình ảnh phục vụ khâu trình bày báo.
Tất cả phóng viên hoan hỉ vì được sử dụng riêng mỗi người một máy. Phạm Thanh còn bảo tôi rằng không nghĩ là tôi lại liều sắm cho mỗi người một máy như thế.
Tập dượt sử dụng công nghệ mới
Có máy rồi, nhưng việc sử dụng máy rất quan trọng để bảo đảm làm việc hiệu quả. Các phóng viên phải quen với việc chuyển tin, bài của họ cho máy tổng hợp của Ban TKTS thì không có vấn đề gì đáng ngại. Nhưng khâu trình bày báo thực sự lôi thôi vì họa sĩ trình bày báo chính là chị Thục Uyên, người trình bày Chuyên đề Dân tộc thiểu số và miền núi là Sĩ Lâm của Ban TKTS đều chưa biết làm maket trên máy. Tôi phát hiện có Trần Văn Lương đang làm bảo vệ cơ quan có biết khâu đổ bài vào maket. Thế là tôi bố trí cho Lương làm bán thời gian ở Ban TKTS; chị Uyên sẽ làm maket bằng tay, còn Lương đổ bài và chỉnh sửa. Cùng lúc đó để chị Uyên và Sĩ Lâm đi học làm maket bằng máy tính ngoài giờ ở Trung tâm tin học IDEA.
Nhưng khi bắt tay vào làm thì thấy mọi việc lại chậm hơn khi chưa có máy. Thì ra Lương phải vẽ lại maket theo bản vẽ tay của chị Uyên rồi mới đổ bài được, làm tăng thời gian làm maket lên gấp đôi. Một mặt đành phải chấp nhận thực tại, vẫn để mọi người làm máy cho quen và đợi chị Uyên và Lâm đi học xong; mặt khác tôi đề nghị Lương phải học làm maket bằng máy.
Lắp xong mạng LAN là tháng 6/2002. Chúng tôi đặt kế hoạch: đến tháng 11 phải tự làm được các khâu ở Tòa soạn cho ra bản can. Nhưng phải chậm lại vài tháng vì Lương cưới vợ tháng 12. Trước đó, chúng tôi thỏa thuận với Nhà in để có một thời gian giao thời: Tòa soạn làm can được trang nào thì làm, còn thì chủ yếu vẫn do Nhà in đảm nhiệm. Đến tháng 1/2003 thì chúng tôi hoàn toàn chuyển làm ở Tòa soạn toàn bộ các khâu cho đến bản can. Nhờ thế việc chuyển bản thảo cho Nhà in chậm lại được tới 2 ngày, nghĩa là tăng được tính thời sự của tin, bài lên 2 ngày và hơn thế, bởi với quy trình mới, đến phút cuối vẫn có thể thay các tin, bài thời sự nếu cần.
Bây giờ phải tập trung lo khâu thiết kế nội dung để ra đều 2 kỳ/tuần. Nhưng chuyện xây dựng đội ngũ không kém phần quan trọng.
(Kỳ sau: Năm ứng viên Phó Tổng biên tập)
27 thg 10, 2007
Nhắn Joe (Comment Joe's Blog)
THẾ MÀ KHEN ĐƯỢC À?
Nghe đồn nhiều về blog của Joe- một người nước ngoài nói tiếng Việt giỏi hơn … người Việt, thỉnh thoảng tôi cũng nghé qua xem sao. Quả là rất đáng khâm phục vốn tiếng Việt của anh chàng này. Từ ngữ pháp đến chính tả, từ vựng, tu từ…, thậm chí cả tiếng lóng đều dùng rất khá, cũng có nhiều ý tưởng hóm hỉnh.
Mỗi entry của anh chàng đều có nhiều trăm comment; có cảm giác như các Fan chỉ chờ Joe có entry để comment, để “bóc tem”…
Tuy nhiên không phải entry nào cũng đáng khen đâu.
Hôm 22/10/07, Joe có entry cogaidolong với 252 comments (tính đến 25/10 là ngày tôi đọc entry đó). Đọc xong, xem lướt cả một số comments, tôi ngạc nhiên: Thế mà cũng khen được à?
Trong entry ấy, Joe “hưởng ứng” sự kiện nhà báo Hương Trà bị diễn viên Phương Thanh kiện; cậu ta mong mình cũng bị (được) kiện nên tạo mồi nhử bằng cách viết câu chuyện bịa về cuộc gặp để làm phỏng vấn giữa cậu với Hương Trà. Cả lời dẫn lẫn câu chuyện hư cấu đều có những lời không đẹp nói về người Việt Nam.
Đây là lời dẫn:
Báo chí Việt Nam vẫn đang xôn xao về chuyện Phương Thanh kiện blogger cogaidolong, có tên thật là Hương Trà. Mình thấy chuyện “người của công chúng” kiện nhau cũng vui, nhưng nếu chỉ có mỗi một hai người vào cuộc thì sẽ…nói như thế nào nhỉ….sẽ không đoàn kết cho mấy. Phải có nhiều người vào cuộc mới vui chứ, mới giữ được tính cộng đồng của dân tộc Việt Nam. Tóm lại, phải kiện tập thể mới hay! Vậy nên mình quyết định sẽ viết một entry “bôi nhọ” chị Hương Trà. Chị Trà kiểu gì chị ấy cũng sẽ kiện mình, rồi mình sẽ kiện Ngô Thanh Vân (không có lý do gì, chỉ muốn làm quen thôi), rồi Vân sẽ kiện một người khác, v.v… rồi cuối cùng sẽ có rất nhiều người được kéo vào cuộc, sẽ đông vui cực kỳ, tình cảm cực kỳ!
Còn đây là trích dẫn lời nhà báo HT “quát vào mặt ”Joe khi ngồi ở quán nước để phỏng vấn Joe trong câu chuyện bịa của cậu ta:
“Mày nghĩ gì tao không quan tâm!” – Hương Trà cắt lời luôn. “Tao gọi nước là việc của tao. Việc của mày là trả lời các câu hỏi của tao. Tao hỏi mày thì mày mới có quyền mở miệng ra, rõ chưa?”...
Thế mà không hiểu sao các Fan của Joe vẫn “Tem, Tem… và Hay, Hay…”.
Chỉ có 2 bloggers là comment NGƯỢC. Họ viết:
Snowflake: Khong ngo Joe lai co 1 bai xuc pham den long tu trong cua nguoi Viet Nam nhu the nay. 1 bai viet le ra khong nen post len thi dung hon!
@All: Sao moi nguoi co the tung ho nhu vay duoc nhi?
CCn:
Minh khong thich bai viet nay cua Joe. Mong mot bai viet hay hon :)
(Comment này được post nhiều lần )
Tôi chợt nhớ tới một nửa câu cách ngôn: “…ta nên thân, song đừng quá chiều mà ra phụ họa”.
Muốn nhắn với Joe một câu rằng: “Em trai ơi, đừng đi quá đà, kẻo khi các Fan của em tỉnh ra thì em sẽ bị cô độc nơi quê người đấy!”
PS: Viết xong, post rồi, tôi lại thấy băn khoăn: có thể Joe viết lỡ thì sao nhỉ, như có đôi khi người ta nói lỡ ấy? Nếu là do "lỡ" thì xin rút lại lời nhắn trên, thay bằng lời khuyên: "Em trai ơi, viết lách nên cẩn thận hơn nhé, kẻo phụ lòng nhiều người bạn Việt Nam yêu quý em".
Nghe đồn nhiều về blog của Joe- một người nước ngoài nói tiếng Việt giỏi hơn … người Việt, thỉnh thoảng tôi cũng nghé qua xem sao. Quả là rất đáng khâm phục vốn tiếng Việt của anh chàng này. Từ ngữ pháp đến chính tả, từ vựng, tu từ…, thậm chí cả tiếng lóng đều dùng rất khá, cũng có nhiều ý tưởng hóm hỉnh.
Mỗi entry của anh chàng đều có nhiều trăm comment; có cảm giác như các Fan chỉ chờ Joe có entry để comment, để “bóc tem”…
Tuy nhiên không phải entry nào cũng đáng khen đâu.
Hôm 22/10/07, Joe có entry cogaidolong với 252 comments (tính đến 25/10 là ngày tôi đọc entry đó). Đọc xong, xem lướt cả một số comments, tôi ngạc nhiên: Thế mà cũng khen được à?
Trong entry ấy, Joe “hưởng ứng” sự kiện nhà báo Hương Trà bị diễn viên Phương Thanh kiện; cậu ta mong mình cũng bị (được) kiện nên tạo mồi nhử bằng cách viết câu chuyện bịa về cuộc gặp để làm phỏng vấn giữa cậu với Hương Trà. Cả lời dẫn lẫn câu chuyện hư cấu đều có những lời không đẹp nói về người Việt Nam.
Đây là lời dẫn:
Báo chí Việt Nam vẫn đang xôn xao về chuyện Phương Thanh kiện blogger cogaidolong, có tên thật là Hương Trà. Mình thấy chuyện “người của công chúng” kiện nhau cũng vui, nhưng nếu chỉ có mỗi một hai người vào cuộc thì sẽ…nói như thế nào nhỉ….sẽ không đoàn kết cho mấy. Phải có nhiều người vào cuộc mới vui chứ, mới giữ được tính cộng đồng của dân tộc Việt Nam. Tóm lại, phải kiện tập thể mới hay! Vậy nên mình quyết định sẽ viết một entry “bôi nhọ” chị Hương Trà. Chị Trà kiểu gì chị ấy cũng sẽ kiện mình, rồi mình sẽ kiện Ngô Thanh Vân (không có lý do gì, chỉ muốn làm quen thôi), rồi Vân sẽ kiện một người khác, v.v… rồi cuối cùng sẽ có rất nhiều người được kéo vào cuộc, sẽ đông vui cực kỳ, tình cảm cực kỳ!
Còn đây là trích dẫn lời nhà báo HT “quát vào mặt ”Joe khi ngồi ở quán nước để phỏng vấn Joe trong câu chuyện bịa của cậu ta:
“Mày nghĩ gì tao không quan tâm!” – Hương Trà cắt lời luôn. “Tao gọi nước là việc của tao. Việc của mày là trả lời các câu hỏi của tao. Tao hỏi mày thì mày mới có quyền mở miệng ra, rõ chưa?”...
Thế mà không hiểu sao các Fan của Joe vẫn “Tem, Tem… và Hay, Hay…”.
Chỉ có 2 bloggers là comment NGƯỢC. Họ viết:
Snowflake: Khong ngo Joe lai co 1 bai xuc pham den long tu trong cua nguoi Viet Nam nhu the nay. 1 bai viet le ra khong nen post len thi dung hon!
@All: Sao moi nguoi co the tung ho nhu vay duoc nhi?
CCn:
Minh khong thich bai viet nay cua Joe. Mong mot bai viet hay hon :)
(Comment này được post nhiều lần )
Tôi chợt nhớ tới một nửa câu cách ngôn: “…ta nên thân, song đừng quá chiều mà ra phụ họa”.
Muốn nhắn với Joe một câu rằng: “Em trai ơi, đừng đi quá đà, kẻo khi các Fan của em tỉnh ra thì em sẽ bị cô độc nơi quê người đấy!”
PS: Viết xong, post rồi, tôi lại thấy băn khoăn: có thể Joe viết lỡ thì sao nhỉ, như có đôi khi người ta nói lỡ ấy? Nếu là do "lỡ" thì xin rút lại lời nhắn trên, thay bằng lời khuyên: "Em trai ơi, viết lách nên cẩn thận hơn nhé, kẻo phụ lòng nhiều người bạn Việt Nam yêu quý em".
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)